Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2016

TRỪ TÁNH XẤU

sống trên đời ai ai cũng muốn cho mình là người đẹp tướng, tốt lòng. Kẻ lỡ bị nghiệp trước mà thọ thân không mấy đẹp bị chê xấu là không vui; người may mắn được sinh ra với thân hình đẹp đẽ thì mừng, tự mãn, nhưng hành động xấu bị người khác chê bai là kẻ đẹp mặt xấu lòng cũng cãi nhau cho giận hờn, oán thù chồng chất.
Xã hội đa dạng, tích tụ nhiều điều xấu mà xấu đến người ta còn không ưa, kẻ lỡ làm xấu còn chối bỏ cái xấu của mình. Huống chi trong cửa đạo là nơi mở rộng tình thương và nhân cách, nơi đó đề cao qui tắc: chỉ có thương không cho ghét, có tốt không có xấu, làm lành thì cho mà dữ không cho, chẳng phải quan trọng hơn sao!
Sáng tác Sám Giảng quyển ba KHUYÊN NGƯỜI ĐỜI TU NIỆM Đức Thầy dạy tín đồ sự tu hành cần thiết:
Ai ai cũng rán xét mình
Nếu còn tánh xấu thì rinh ra ngoài
Xét hai câu dẫn trên Đức Thầy đặt trọng tâm phải trừ xấu là trước nhất, còn trừ bằng cách nào thì hôm nay chúng ta gặp nhau đây hãy cùng bàn bạc xem nội dung của hai câu văn giáo chứa đựng những gì, từ đó thắp sáng ý nghĩa đi sâu vào thực hành.
Trừ tánh xấu là điều quan trọng bậc nhứt trong cửa đạo. Người đời mấy ai đã biết, đẹp xấu của tấm thân làm cho mình vui hoặc buồn sung sướng hay đau khổ  đều chịu ảnh hưởng của tánh xấu hay tánh tốt từ kiếp trước. Vì thế trong ngưỡng cửa đạo đức, dạy tu thân hành thiện, TÁNH XẤU cần phải loại trừ chớ không được dung dưỡng hay che đậy.
Xem nghe hai câu giảng vừa trích dẫn ta thấy những từ như ai ai, Xét mình, tánh xấu, rinh ra ngoài, cần phải được khơi dậy trong ý thức của người học đạo, là niềm nhớ, nhắc nhở việc tu.

Ai ai là tiếng kêu, nói rộng là tất cả con người, nói hẹp là Thầy dạy các trò, tín đồ PGHH. Nếu dùng một tiếng “ ai ”  là nói riêng người nào đó, ví dụ những lời dạy khác hơn, cũng của Đức Thầy nói về một chữ ai:
“Ai làm phước in ra mà thí
Thì được nhiều hạnh phúc sau nầy”.
Và:
“Ai mà ta dạy chẳng gìn
Thì sau đừng trách mất tình yêu thương”.
Ý nói người nào làm phước người đó hưởng phước báo hạnh phúc, người nào ta dạy không nghe lời, tu thân hành thiện; sống ác, đến lúc chịu quả báo đừng trách sao ta không cứu độ.
Xét Mình: Tự xét bản thân. Sự sắp đặt của bộ máy Thiên Cơ  Đức Thầy tạm thời vắng mặt, trước lúc ra đi Ngài đã cảnh tỉnh nhơn sanh“ Từ nay cách biệt xa ngàn, ai người tâm đạo đừng toan phụ Thầy”. Theo đó sự xét mình Có những thứ mục: 1 tự xét qua bổn phận của người tín đồ có trung thành với Thầy Tổ không? 2, có thực hành theo lời dạy không? 3, Việc học và tu có tiến triển không? 4, Đức thầy dạy đạo cho tu, chỉ một kiếp nầy thôi hễ thoát chốn mê đồ tức khắc vãng sanh Cực Lạc, ta có thực hành không?.
Trung thành với Thầy Tổ là không bỏ đạo để chạy qua đạo khác như Đức Thầy dạy “Một đời một đạo đến ngày chung thân”. Thực hành theo lời dạy là không phải học đạo chỉ để nghe, nói, biết mà còn phải áp dụng cụ thể những điều mình nghe, nói, biết vào trong sinh hoạt đời sống đạo sự. Để đo lường việc tu có tiến triển hay không là đem chuyện của năm rồi, ngày qua, bị đụng một chút chuyện là giận hờn, thấy một chút danh là ham, một chút lợi là bám, một chút tình là mê, nếu giờ đụng chuyện xảy ra như trước ta có còn giận dữ, ham hố, nhiễm trược nữa không? Nói đi mấy mươi năm mà đi cái kiểu giậm chân tại chỗ, danh lợi tình đáng lẽ bị thời gian làm cho phai lợt, củ kỷ không mặn mà sức quyến rủ để mà nhàm chán cõi Ta Bà, nhanh nhanh cầu sanh Tịnh Độ. Ai dè mấy mươi năm tu mà sự ham hố, giận hờn, ganh tỵ  y như lúc mới tu. Trong khi học đạo thì ta đã thuộc lòng câu “Đường đạo đức bước đi từ nấc” mà mấy năm tu, thông mồm nói hay thì có, hạnh cách như người phàm tục. Xét hiện tại ta đang ở đâu trong chốn mê đồ? đang tới đâu của con đường vãng sanh Tịnh Độ?
Đó là ý nghĩa của sự “xét mình”.
Tánh Xấu: Là huân tập các chủng tử bất hảo, bất thiện; người trong đạo đức quan niệm hễ ai làm điều vô đạo đức, chính họ là kẻ xấu. Nói theo đời thường người có tánh xấu, về hành động thì trộm cướp, giựt dọc, nghiện ngập say sưa, nói không cẩn lời, hứa không giữ tín; về tinh thần thì ăn ở cố chấp, khó khăn, vi phạm với ai biện hộ ngược ngạo phủ đầu, người ta lỡ phạm thì hài tội, bêu xấu dù họ đã ăn năng xin lỗi. Nói theo lý đạo và dựa vào căn bản của thiện và ác, chủng tử xấu ấy sanh ra ba nghiệp ác chướng: Thân nghiệp, Khẩu nghiệp và Ý nghiệp, có ba điều ác do thân, bốn điều ác do miệng lưỡi và ba điều ác do ý tưởng gây nên.
Rinh ra ngoài: Rinh là lấy. Rinh ra ngoài tức nói: Người học đạo phải luôn sống trong tốt đẹp từ hành động, lời nói, ý tưởng; tánh xấu nằm trong người hay sanh chuyện bất lành, làm điều tội lỗi, hãy mau đem nó ra khỏi đây ngay.
Trong đạo Phật, chính Đức Phật, lúc còn là thái tử, bốn lần đi dạo ngoại thành thấy cảnh Sanh, Lão, Bệnh, Tử mà biết tấm thân nầy giả hợp, có giữ nó, quí nó, chìu chuộn nó cho đến kết cuộc cũng chẳng tốt đẹp gì. Sự suy nghĩ đó được Đức Thầy diễn tả:
“Về đền đài cảm xúc buồn riêng
Hằng để trí tìm phương giải thoát”
Do tìm đường giải thoát mà Ngài chứng đắc đạo quả. Thấy trong các chúng sanh đều có Phật Tánh, có thể thành Phật nhưng ở mỗi chúng sanh còn bị bao phủ bởi vô minh, Phật tánh không hiện được để “ chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhứt thiết khổ ách”. Người trong bống đen vô minh  thường hay tập tành thói hư tật xấu, Đức Phật thuyết tám con đường chánh để chúng sanh đi theo đó rứt bỏ các tánh xấu, tà tâm vọng tưởng ra ngoài.
Theo lý đó, Đức Huỳnh Tôn Sư khuyên:
“Các công cuộc của người tánh xấu,
Ta giữ gìn chớ có nhiễm vào.
Tâm bần tăng chẳng mến sắc màu,
Mến những kẻ biết vào đường chánh”.
Tóm kết, bàn qua hai câu trích dẫn nói trên, người ta làm điều gì còn có kẻ ưa người ghét chớ tánh xấu là không ai ưa được. Ví trong cảnh vợ chồng chung chăn gối, tình nghĩa mặn nồng mà bổng một người làm điều xấu hay xấu tánh người kia khuyên bỏ tật xấu không xong. Hết sức chịu đựng thì người ta phải cho đổ vỡ chuyện trăm năm. Phụ-mẩu-tử thâm thúy nhứt trên đời mà trong đó cha hay mẹ hoặc con chuyên làm điều xấu người còn lại khuyên nhủ chẳng hề đá động, họ cũng sẽ từ tình.
Tánh xấu luôn luôn có tác hại như thế, người học đạo không thể đi chung với nó, phải tách nó ra khỏi đời sống tu hành. Để làm được điều nầy hành giả hãy coi sự “xét mình” là quan trọng, cần được đề cao.
14/3/2016


Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2016

BUỔI HỌC 11
NHÓM HỌC GIÁO LÝ PGHH
ĐỀ HỌC: ÁC THAM LAM

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
Kính chào chư quý đồng đạo! Hôm nay chúng ta học buổi học thứ 11 qua đề Ác Tham Lam. Bài nầy phần chánh văn khá dài, mà từ ngữ lại giồi giàu nếu không cố gắng cũng khó thuộc và lãnh hội, nhưng tôi hy vọng quý vị sẽ cố gắng, thành công là tất nhiên.
PHẦN 1: HỌC CHÁNH VĂN
Tham-Lam. – Tánh tham-lam đã làm cho loài người phải chịu bao nhiêu thảm khổ: Chiến-tranh, cướp bóc, giết người… tham danh, tham lợi, tham sắc, tham tài, tham quyền, tham thế… những sự ấy đã xô đẩy con người vào chẳng biết bao nhiêu cuộc chiến-đấu, ác-liệt, gây nên những thãm-họa tầy Trời. Những tấn tuồng giặc-giã, cướp của sát-nhơn, những vụ hối-lộ, những vụ tranh thế giành quyền đã làm cho nhân-sanh điêu-linh trong vòng tai-nạn khốc-hại. Cái tham ấy cũng đã làm cho con người đau buồn hận khổ, phải khóc đứng than ngồi, phải liều mình tự-sát chỉ vì sự ham muốn không được thực-hiện; người ta quyên-sinh vì tình yêu, vì lợi-quyền, vì thất trận… Những cuộc cấu-xé lẫn nhau, những vụ nồi da xáo thịt, những tương-sát tương-tàn, những điều hung-hăng bạo-ác cũng do sự tham-lam mà ra cả. Ngày giờ nào loài người diệt được tính ham muốn của mình, ngày giờ ấy bớt được một phần lớn của sự khổ. Vả lại, ở đời phải có lúc thăng trầm chìm nổi, có thì ta xài, không ta nhịn, can gì phải bày mưu tính kế chiếm đoạt của kẻ ngoài. Của là của chung trong thiên-hạ; đời ta còn, nó còn; đời ta mất, nó mất; gương Thạch-Sùng Vương-Khải há không để lại cho ta một bài học đích-đáng lắm ru? Thế nên hãy nghĩ đến người cũng như mình nghĩ đến mình, hãy dẹp lòng vị-kỷ tham-lam, lo vun-trồng phước-đức, bố-thí cho kẻ nghèo hèn, rán công-phu sám-hối để có thể yên vui nơi miền Cực-Lạc, lánh sự giả-tạm ở cõi đời nầy.
PHẦN 2: CHÚ GIẢNG
Tham-Lam: Thuộc phần ý nghiệp, bắt đầu từ sự động lòng ham muốn mà bất giác mới dẫn tới hành động lấy của, chiếm công, không thuộc về mình.
Chiến-Tranh: Đánh nhau chết sống trên chiến trường để giải quyết thắng bại ai hơn ai thua, người còn kẻ mất cũng do từ lòng tham không đáy mà ra. Chiến tranh tầm cỡ quốc gia thì các đại bang đi tìm thuộc địa, quốc gia tiên tiến đánh chiếm quốc gia nhược tiểu; chiến tranh qua ảnh hưởng phe nhóm, gia đình, đất đai, yêu đương…
Tham Danh: Hễ làm cái gì có danh là thích. Đi công tác xã hội từ thiện khiêng vác nặng nhọc cỡ nào không ngán nếu có ai khen mình hay ho giỏi giắn. Thuyết giảng đạo lý có người ta khen, vổ tay thì thích hơn chỗ mình nói mà khán thính giả im lìm lắng nghe từng câu từng đoạn không có dấu hiệu vuốt ve. Nhà ở cách xa mà nơi đó nhiều người khen mình hễ ai có lời mời là đến, người ở gần bên họ cũng thích nghe đạo lý nhưng không nói gió đẩy gió đưa lời khen nào rất khó mời được Ông thuyết trình viên tới nhà.
Tham Lợi: Rao rao cửa miệng đi công tác từ thiện là nhắm vào lợi ích bá gia, thuyết trình giáo lý nói vì lợi ích của Đạo PGHH nhưng đâu được vậy. Làm công tác từ thiện chỗ nào cũng muốn có ai đó từ thiện lại để tiếp tục làm công tác tới; thuyết trình xong kêu gọi quyên tiền ấn tống Sám Giảng Giáo Lý, hoặc giúp người nầy người nọ. Tiền  chuyển qua trung gian khó còn nguyên vẹn. Làm đạo mà chỗ nào cho mình đi không về không vài lần là hết muốn tới đó nữa. Nhưng đi không về không là đúng mẩu mực để phát huy đạo giáo.
Tham Sắc: Sắc đẹp nam nữ. Có việc đi đâu hay làm gì thích được người khác phái cùng trang lứa, hợp nhản đi cùng, cùng làm. Người không cùng trang lứa, hoặc cùng trang lứa nhưng không hợp nhản là không thích đi chung, làm chung. Như quý vị thấy chỉ có đi cầu nguyện thôi mà cũng lựa… hành hương chiêm bái cũng lựa… Người không nặng tình với sắc đẹp thì sắc đẹp bình thường như mọi thứ bình thường trong đời nhưng ai đã nặng tình với nó tới cỡ đắm đuối thì sắc đẹp trở nên thứ dữ dằn. Tu mấy mươi năm thây kệ, đắm đuối là bị trói chết liền! Chẳng phải Đức Thầy đã dạy “Tham sắc đẹp nhà tan cửa nát” Hoặc “đừng ham sắc lịch lắm phen lụy mình” đó sao?
Tham Tài: Tham tiền bạc, đi đâu hễ nghe ai nói tới kiếm tiền là chịu, người đời, rủ làm gian thương hay gì gì đó có tiền nhiều là ừ lẹ. Người đang tu ngon lành, việc áo cơm tiêu xài các cái đồng đạo ủng hộ đến dư chút chút; trong lúc bất giác sanh chứng tham tiền, muốn có hơn cái người ta ủng hộ. “lạc đạo an bần”mà muốn có tiền mua sắm thêm nầy nọ ăn cho sướng thân, coi sướng con mắt, thì lạc đạo an bần có còn gì nữa đâu. Đi trồng trọt hoặc mua bán, chạy cò…. Không có thời vận cầm tiền, mầng chết cái thân tiền cũng không vô như mình muốn mà cái đạo đức xem ra chẳng còn gì; đồng đạo nào có hên tay vô tiền đôi khi cũng bán luôn sự tu niệm. Chừng chết đến cần có sự tu niệm đi cùng kiếm hoài không thấy tu, còn tiền bạc biểu nó đưa giùm mình lên thiên đàng thì nó làm khác hơn, kéo xuống địa ngục. Lệ chết, cái nút áo còn phải lắt trả lại thế gian chứ ở đó mà đem theo được gì. Thảo nào Đức Thầy chẳng bảo:
“Gẩm kim tiền bội bạc bất tài,
Không làm cho ta được sống dai
Lại chẳng bước tiễn đưa một bước”.
Chừng ni mới biết “Tham tiền tài thường vướng nạn eo”. Rõ ràng thôi!
Tham Quyền: Quyền đây là quyền chức. Tham chức tước để có quyền quyết định, sai khiến. Người tu không ham quyền chức trong bộ máy nhà nước, tưởng thoát khỏi vụ đó là hành đúng còn quyền chức trong đạo coi như không có vì. Đừng nói không có gì, vướng bận là mất tu thì khổ tới. Quyền trong giáo hội đối với đạo cũng rất đáng lo ngại; chức tự nhiên, do sự tín nhiệm trong ứng cử, bầu cử, đúng người đúng việc, đôi khi còn xảy ra sơ suất gây hại huống chi chức tự xưng, đèo bồng. Tham quyền còn có ý nghĩa muốn điều động công việc hoặc sai khiến người khác không thuộc trong quyền hạng của mình.
Tham Thế: Thế đây là thế lực. Đã làm chức quan hay chức sắc trong tôn giáo mà muốn vượt lên hay đứng vững phải kiếm cái ô dù mà dựa. Nịnh hót với những kẻ có chức quyền hay người giàu có. Đức Thầy nói:
“Thấy quyền quí nó hay dự mé,
Đặng bợ bưng những kẻ hung sùng.
Ta thương đời nói những chuyện cùng,
Chẳng có dị có dung kẻ quấy.”
Thảm-họa: Thảm có hai nghĩa: thương xót và sự độc ác đáng sợ; họa là sự bất lành đưa đến. Thảm họa là tai họa đưa đến cho nhân sanh khiến ai nhìn thấy cũng đau lòng, khiếp đảm.
Giặc-giã: Nói về chiến tranh, hai bên đánh nhau thành giặc. Giặc giã giết chết người, phá hại tài sản mùa màng, sự bình yên của nhân dân.
Hối-lộ: Hối là đút lót, lộ là đi đường. Hối lộ: đút lót tiền để qua đường qua trạm. Quan chức tham lam, làm giàu bất chánh tệ nạn xã hội trong nước vẫy đầy. Cấm hàng thuốc lá nhập, cấm buôn hay sử dụng mà túy, cấm mại dâm… Cấm đủ thứ mà thứ nào nhân dân trong nước cũng lên tiếng báo động về tệ nạn. Tổ chức ma phi a Năm Cam hoạt động giữa thành phố Hồ Chí Minh hằng chục năm để lôi ra trước vành móng ngựa mấy chục tên quan hối lộ. Người xưa bảo “đa kim ngân phá luật lệ” là chỉ cho đồng tiền có sức mạnh, rất mạnh đối với những tên quan tham.
Điêu-linh: Điêu có nghĩa điêu nát, tàn rụi, linh là long đong, không nơi nương tựa. Điêu linh: vì quốc gia đại sự lại có những quan tham tiền hối lộ, những quan tranh ghế giành quyền tạo ra tấn tuồng giặc giã làm cho dân chúng trong nước trôi giạt, linh đinh sống khổ.
Tai-nạn khốc-hại: Tai nạn là tứ tai bai họa gởi từ đâu đưa tới, nó không phải do mình làm sai trái, cũng không phải làm tội mà chịu quả báo; họa từ những quan chức hối lộ, tham quyền lợi, nhân dân làm trầy da phỏng trán cho họ vét tiền. khốc hại là tai hại quá sức chịu đựng. Tai nạn khốc hại là chịu khổ ghê gớm bởi lòng tham của người khác khiến xui.
Liều mình tự-sát: Liều mình tức là dám chết, tự sát là tự mình giết mình. Nguyên nhân để người ta đi đến liều mình tự sát là do có quá nhiều áp bức bất công với bản thân hay thân nhân đến đường cùng, cần có sự hy sinh để gở nước bí.
Quyên-sinh: Tự tử bỏ xác. Hai nhóm từ chúng ta trích học “Liều mình tựu sát” hay “quyên sinh” cũng tự mình giết chết lấy mình nhưng đặt vào trường hợp thì thấy ở hai góc độ khác nhau. Liều mình tự sát là bị người khác có quyền có chức ép đến cùng đường đành phải chọn cái chết cho hết việc còn chết do quyên sinh là do mình thua cuộc, chết vì không được yêu, chết vì mất quyền lợi, vì thất trận.
Tình-yêu: Lòng yêu thương nồng nhiệt. Đặt chữ tình trước đâu thì mạnh đó, đặt tình yêu với một người, một nhóm người, tổ quốc, tôn giáo thì trải sự yêu thương nồng nhiệt ra, hành động cụ thể.
Thất trận: Thua, bại trận.
Nồi da xáo thịt:  Nói gần là anh em ruột thịt, nói rộng là giống nòi, giết nhau do vì lòng tham mà ra
Tương sát tương tàn: Tương là ngang đồng nhau, sát là giết; tương sát tức hai bên mang hận thù; Tàn là rụi mất, tàn đời. Tương sát tương tàn: cũng nghĩa đồng bào, tình cốt nhục; vì tham quyền, tham lợi, tham sắc, tham tài mà anh em, đồng bào, đành  sát hại nhau.
Hung hăng bạo ác: Tính tham lam sợ không được điều mong muốn mà người khác ve vản làm nóng giận, sự hung sùng hễ hăng lên là tánh tình bạo ngược, hành động ác đức.
Thăng trầm chìm nổi: là ý nói trong cuộc sống khi lên lúc xuống, giàu nghèo, vinh nhục, khi làm ăn phát đạt, lúc thất thời lổ lả. Đừng vì sự thua lổ mà tính chuyện phi nhân ác đức, lập mưu chiếm công hay chiếm đoạt tài sản của người khác. Chấp nhận sự thăng trầm chìm nổi, hùng dũng tìm sự sống trong sự sống.
Thiên-hạ: : Mọi người sống trên thế gian nầy
Thạch sùng Vương Khải: Là câu chuyện khoe giàu của hai Ông quan đời nhà Tấn bên Tàu. Thạch Sùng làm quan Thứ Sử Kinh Châu, nhân quyền hành trong tay mà lòng tham vô tận, lương bổng chê là ít, cấu kết với bọn cướp kiếm thêm tiền bất chánh. Bọn cướp có quan lớn đỡ đầu không sợ lọt lưới pháp luật cướp đâu là xong đó, mở rộng vùng hoạt động cướp của nhiều hơn. Chẳng bao lâu Thạch Sùng giàu phất lên, đem tiền mua lên chức Thái Bộc.
Tiền làm không tốn chút mồ hôi nên ăn xài không tiếc, xây cất biệt thự, mua thê thiếp, sắm dọn sa sỉ … Sự vui chơi trác táng ấy tiếng đồn đến Vương Khải, Ông nầy là em trai của hoàng hậu nương nương, có thế lực mạnh với các quan trong triều và được coi là nhà đại phú. Vốn người cậy thế mà giàu nên hễ nghe ai giàu là sợ hơn mình nên không thích, lần gặp Thạch Sùng Vương Khải gây chuyện khoe giàu, khoe của. Thạch Sùng đâu chịu thua, khoe lướt cái giàu của Vương Khải. Khoe tức là nói miệng không, các quan khích tướng đòi trưng bài của ra để xem ai giàu hơn ai cho biết. Vương Khải nghe khích liền truyền gia đinh lấy lụa trải đường dài bốn mươi dặm, Thạch Sùng chơi gát hơn, kêu gia nhân trải gấm  năm mươi dặm… tiếp theo những món khoe của phía Vương Khải đều thua, làm mất thể diện với các quan Vương Khải đầy lòng căm tức, muốn tiêu diệt chướng ngại chận đường và đang nghĩ cách chưa xong thì bổng…
Thạch Sùng có người thiếp trẻ, nhan sắc tuyệt vời đã làm động lòng một quan gian tên Tôn Tú. Hắn ỷ thế lực bèn hỏi cưới người thiếp trẻ của Sùng. Sùng không chịu nhường thiếp còn giận nôn lên. Tôn Tú say mê nhan sắc đến cầm lòng không đậu tìm cách đưa Thạch Sùng đến chỗ chết. Tôn Tú bẩm báo lên vua, Thạch Sùng dùng tiền mua chuộc các quan chờ ngày phản loạn triều đình. Vua nghe báo, không dám để chờ điều tra kỷ lưởng sợ giữa chừng sanh biến hối không kịp liền ra lệnh cho quan quân tả hữu bắt ngay Thạch Sùng ra pháp trưởng xử trảm. Thạch Sùng than tiếc mấy câu và chắc lưỡi trước khi chết.
Đức Thầy nhắc tích xưa để treo sáng cho người học đạo qua câu hỏi “gương Thạch-Sùng Vương-Khải há không để lại cho ta một bài học đích-đáng lắm ru?” Học được bài học nầy là không làm giàu bất chánh, của cải dư ra là làm từ thiện, cứu giúp kẻ khốn cùng chứ đừng giấu cho nhiều rồi tới việc đem khoe giàu bị giàu hại chết.
Vị Kỷ: Tức ích kỷ, chỉ biết có lợi cho bản thân mình. Đức Thầy nói:
“ Mảng điểm tô huy hoàng nhà cửa,
Ai khốn cùng để mặc đất Trời xay”.
Vun trồng phước đức: Ý nói trồng phước đức cho vun lên nhiều. Thế gian là cõi khổ, đối với người biết đạo tu hành thì ở trong đời nầy là tạm ở, lo vun trồng phước đức, dọn đường về cõi Phật là hơn.
Bố thí: Bố là giải ra, thí là cấp cho. Bố Thí là cung cấp tiền của giúp người đói đau hoặc những thứ lầm than khác. Bố thí có ba yếu mục, 1 là tài thí, 2 là Pháp thí, 3 là vô úy thí.
Công phu: Ý nói về một việc làm tốn nhiều thời giờ và sự cần mẩn, ví dụ tốn nhiều thời giờ cho việc chuyên trì hành đạo mới có kết quả phựt sáng tâm linh, Ông ấy tốn nhiều công phu trong việc giảng dạy nên lớp học có nhiều học viên xuất sắc.
Sám hối: Sám hối là ăn năng lỗi trước, chừa bỏ lỗi sau, chuyện hồi chưa tu đã phạm phải, nay nguyện không tái phạm nữa. Giáo lý PGHH, những bài cúng nguyện trước bàn thờ cửu huyền, bài nguyện quy y trước ngôi Tam Bảo “cải hối ăn năng, làm lành lánh giữ…” hoặc “ Cầu trên thất tổ chứng lòng thiền, nay con tỉnh ngộ quy y phật…” đều đã nói lên ý nghĩa sám hối.
Cực Lạc: Nói theo từ ngữ, Cực là tột cùng hay tột cao, tột thấp. Ví dụ: Cực thiện là tột cùng của cái thiện, cực ác là tột cùng của cái ác. Lạc là vui. Cực Lạc là tột vui, vui cao hơn hết các chỗ vui, các thứ vui. Từ Cực Lạc Đức Thầy dùng nói về một thế giới cách xa cõi Ta Bà lên tới mười muôn ức Phật độ, là một thế giới tột vui của Đức Phật A Di Đà lập ra cứu độ chúng sanh ở ba cõi: Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới, nếu chúng sanh nào trì niệm danh hiệu của Đức Giáo Chủ cõi Cực Lạc: Nam Mô A Di Đà Phật, chí thành, nhất tâm bất loạn ngay trong lúc lâm chung sẽ được Đức Phật giáo chủ phóng quang rước về. Từ đó chấm dứt luân hồi thọ thân sanh tử.
Tóm kết đại ý:
Xét qua phần nội dung của ác tham lam, ta thấy ác nầy gây ra quá nhiều tội lỗi như “chiến tranh, cướp bóc, giết người…”Nếu không khắc phục được tính tham lam trong người sẽ dẫn đến những tác hại ghê gớm. Người thấp kém trong xã hội mà có lòng tham, làm việc nhỏ thì hại nhỏ, việc lớn hại lớn; nhứt là những hạng có học vị cao, cậy vào đầu óc thông minh tính toán ra mưu, tham lớn vụ mà kín đáo với những điều che mắt, hoặc những quan cao quyền cao chức  tham lam là chết dân, ăn rút ruột rút gan dân mồm lanh lảnh theo luật. Vì lòng tham quyền cố vị họ có thể buôn dân bán nước của tổ tiên cho kẻ ngoại tặc vào thống trị. Người đạo, biết tu mà tham lam của thế là phá đạo, hại đời, hậu thế nhìn vào thấy đạo bị tan nát, lung lay ai mà dám, còn dám thì cũng rụt rè, rất tội!
Để trừ ác tham lam, Đức Thầy viết quyển “Khuyến Thiện” dạy có hai cách trong một đoạn văn nối liền
“ Muốn trừ tham phải liệu cách nào,
Phải bố thí diệt lòng ích kỷ
Tâm chánh niệm thường thường sauy nghĩ,
Vật ở trần như bọt nước làn mây.
Thân ta còn rày đó mai đây,
Của ấy cũng khi tan khi hiệp”.
PHẦN 3: ĐẶT CÂU HỎI:
-Thế nào là tham lam?
- Theo chánh văn tham lam có tất cả là bao nhiêu vụ, kể ra?
- Căn cứ theo chánh văn, hãy giải thích về cụm từ “ liều mình tự sát” là thế nào?
- Căn cứ theo chánh văn giải thích thế nào là “ quyên sinh”?
- Phần lớn sự khổ của con người là do đâu? Dùng đoạn văn nào để chứng minh?
- Hãy giải thích về cụm từ “nồi da xáo thịt” là gì?
- Để trừ tánh tham lam đức Thầy dạy ra sao?
Kính thưa chư quý đồng đạo! buổi học thứ 11 đến đây đã hết giờ xong việc. Hẹn gặp lại quý vị buổi học thứ 12 qua hai tiêu đề: Ác Sân Nộ và Ác Mê Si.
Kính chúc tất cả thân tâm thường lạc.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
12/3/2016





Thứ Ba, 8 tháng 3, 2016

NGHI VẤN 3
BUỔI HỌC 10
NHÓM HỌC GIÁO LÝ PGHH
ÁC VỌNG NGỮ
Hỏi: Về Ác Vọng Ngữ Đức Thầy như đã tóm tắt trong những điều “thêm thừa, huyễn hoặc, có nói không không nói có; và Ngài đã kết luận tội trạng của vọng ngữ là “ nguyên nhân cho những sự bất công của nhân loại…”. Do đó mà Phật cấm nói vọng ngữ. Xét về Ông Trần Minh trong truyện xưa tích củ nghèo đói rã rời đi xin được một bát cơm về dâng cho mẹ, mẹ bảo cùng chia nhau mà dùng, Trần Minh thưa rằng: Nay xin được nhiều, con đã dùng no rồi, cơm nầy là phần của mẹ. Mẹ Ông an lòng dùng hết cơm Ông phải nhịn đói còn mang thêm tội dóc láo. Chuyện không nói có của Trần Minh có bị rơi vào tội vọng ngữ không?
Đáp: Căn cứ theo điều có nói không, không nói có thì Ông Trần Minh đã vi phạm vào vọng ngữ, còn tội hay không chúng ta nên theo dõi ý nghĩa của việc làm. Vọng ngữ gọi đũ là ác vọng ngữ, vì là một trong số mười ác. Xét qua sự nói dối nhằm mục đích lợi mình, hại người hay dù không lợi mình mà hại người cũng bị cấm. Trần Minh nói dối không nhằm mục đích lợi mình và không hại ai, còn có lợi cho tha nhân thì đâu thể nói Ông ta làm như vậy là ác được. Ông nói dối để nhường cơm cho mẹ ăn là việc làm sáng tỏ tính cao thượng của một người biết hy sinh về người khác. Nếu Ông không nói dối thì mẹ Ông không thể no bụng. Lấy cái công cho mẹ no bụng, nói dối không hại còn có lợi thì vọng ngữ chỉ là chữ nghĩa đem bàn bạc không tội cho Ông Trần Minh.
Luận về ác vọng ngữ để nói lên tính mực thước để người đời có cơ sở sửa miệng sửa mình, Đức Thầy chỉ dẫn rõ ràng “ác vọng ngữ đã làm nguyên nhân cho những sự bất công của nhân loại. Thương người nào kiếm cách bào chữa, giấu giếm sự quấy và thêu thùa sự tốt ra, ghét ai đặt điều nói xấu…khoe khoang tự đắc, xảo trá đa ngôn…”Ông Trần Minh dầu có thêm thừa huyễn hoặc, chuyện không nói có nhưng hoàn toàn có lợi không hại vì thế gọi Ông là vọng ngữ chứ không thể ác vọng ngữ được.
Hiện nay nhân loại sống đời thèm khát danh lợi, uy quyền, giàu sang… mà đua tranh nên xảy ra nhiều chuyện bất lành trong gia đình và xã hội; đối đãi nhắm vào sự lợi ích về vật chất, rất ít có người làm việc không công, nhà chùa còn phải tụng kinh mướn làm cho ý nghĩa cửa không lu mờ, tình thương có nơi lạnh dưới không độ; rất cần những tấm gương biết hy sinh vì người khác, chịu vất vả cho người khác đỡ vất vả.
Tôi xin kể cho quý vị nghe câu chuyện thương tâm: Có một tớ gái tánh tình ngay thẳng, không ham vật chất không phải của mình, mấy lần lượm tiền rơi vàng rớt trong nhà chủ đều đưa trình lên chủ. Nhà cũng mướn một tớ nam khuân vác các chuyện nặng nhọc. Gia cảnh nghèo tìm làm việc nặng tưởng được lương cao giúp cho cha già mẹ yếu, đâu ngờ làm lụng việc vậy mà lương tháng không hơn người tớ gái chỉ cơm nước giặt vũ. Một hôm người tớ nam nhận tin cha ở quê lâm trọng bệnh, chết kế một bên nếu như không có tiền chỡ nhanh vào bệnh viện. Thương cha anh liền tạo tiền bằng cách ăn cắp, sự lén lút của anh tình cờ đã rơi vào mắt của cô tớ gái. Anh quỳ lạy cô ta: Cha tôi ở nhà bệnh nặng cần tiền để cứu sống cha mà tôi hết cách, nếu chậm nữa thì không kịp. xin đừng mét việc nầy. Cô gái nói: tôi không đồng ý điều sai trái  anh làm nhưng để cứu sống cha anh thì tôi thông cảm, coi như tôi không thấy biết chuyện của anh làm.
Ông bà chủ chừng hay của tiền bị mất liền nghi hai người ở đợ, đem lời hạch hỏi: Trong nhà có hai đứa bây là người dưng, nghèo không ham của mà lấy trộm thì ai vào đây lấy? Đứa nào lỡ dại thì chịu thiệt tao tha cho cái tội đi tù, bằng cố tình giấu giếm chạy tội tao báo lên quan làng họ điều tra cũng ra sự việc, đã đến tay quan làng không cứu được tù đày, liệu mà tính!
Ông nhà giàu mất đồ đã tức, tới làng làng không tìm ra thủ phạm cũng tức, bấy giờ dùng sách vừa dụ dỗ vừa hăm he: Hai đứa bây, đứa nào không trộm mà thấy đứa kia trộm nói ra Ông sẽ thưởng ba tháng lương. Không nữa tao sẽ đuổi việc cả hai. Tao cho hai ngày để suy nghĩ.
Rốt cuộc họ bị đuổi việc ở đợ.
Thấy nói không thấy là chuyện có nói không mà còn gây hại, thế là tội vọng ngữ hết đường bào chữa. Vì thế chuyện tôi kể không phải để bào chữa tội vọng ngữ cho nữ nô tùy. Để cho cô bị tội vọng ngữ ta thử đặt câu hỏi: chuyện có nói không ấy có lợi gì cho cô? Đã không lợi mà nói về sự vui thích cho việc nầy một chút xíu cũng không có. Cô ấy chắc dạ đến của rơi không thèm lượm thì còn ham hố lợi lộc nào chứ! Có nói không hay giả đui giả điếc trước một kẻ trộm phải bị trừng phạt. Với cô, vọng ngữ bây giờ là nhẹ hơn một người con hiếu thảo trước sự bệnh hoạn của cha mà hết cách kiếm tiền lo thuốc. Cuộc thử thách mới: Nếu không chỉ ra kẻ trộm là chúng bây a tòng sẽ bị đuổi việc cả hai. Đời cô nghèo rất cần tiền nuôi sống cả nhà. Đã hy sinh cỡ vậy mà hoàn cảnh còn bắt cô hy sinh hơn nữa: Trước một bệnh nhân sắp chết vì thiếu tiền thang thuốc.
Qua sự trình bài của tôi, nếu vấn chủ không hỏi thêm xin cho qua câu khác.
Hỏi: Chồng tôi mắc việc phải đi xa vắng lâu, cha mẹ chồng gần như quên. Tôi thường tới thăm anh ấy, có cho hay thì cha mẹ chồng cũng không màng hỏi han hay gởi một lời thăm. Chồng tôi cũng thế, không bao giờ nhắc đến cha mẹ ruột dù một câu nói đẩy đưa. Muốn cho họ tốt tình tôi ở giữa phải nói dối mãi, gặp chồng tôi nói cha mẹ nhớ anh, lo lắng cho anh nhiều lắm, gặp cha mẹ chồng tôi nói anh ấy luôn nhớ cha mẹ còn kêu con phải thay anh săn sóc cha mẹ. Thật ra họ không có một chút tình nào, tình là do tôi đặt như vậy có phạm về tội vọng ngữ không?
Đáp: Nghi vấn nầy ý nghĩa cũng giống như câu nghi vấn trước, chỉ khác nhau ở con người và sự việc mà thôi. Qua câu chuyện dàn dựng của cô cũng khá tốt và hấp dẫn. Như tôi trình bài đề trước, vọng ngữ và ác vọng ngữ là hai điều khác nhau, khi nào chuyện có nói không, không nói có nhằm hại người lợi mình thì vọng ngữ mới trở thành ác vọng ngữ, vọng ngữ không ác mà lại làm thiện thì chính là việc uyển chuyển trong khi làm đạo. Viết Sám Giảng quyển tư “ Giác Mê Tâm Kệ” Đức Thầy có hai câu than đời:
“ta thương sót lo tần lo tảo
Chẳng thấy ai rể thảo dâu hiền”.
Trường hợp của cô biểu trưng cho “dâu hiền”. Cô đã làm một bức tranh sóng động, người ta nhìn vào sự lợi lạc của bức tranh, chắc không ai quan tâm đến vọng ngữ của cô đâu.

9/3/2016

Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2016

NGẢ TU GIỮA CHỪNG

… Dạ, vị ấy tu lúc chưa đầy hai mươi tuổi, giữ hạnh độc thân, trớn tu rất ngọt; tiền bạc không ham, lợi danh không muốn, đồng đạo ngợi khen thích ý … như vậy mà cho đến bốn mươi lăm tuổi kết quả ngược ngạo, vị tu ấy vướng vào trận tình, tâm bệnh càng lúc trở nên trầm trọng, e mòi khó sống… Thưa chú Năm! Chúng cháu hậu sanh, hạnh tu chưa vững, nghe chuyện vậy là sợ chẳng biết nguyên nhân nào gây nên mà ngừa. Xin chú giúp ạ.
Tôi vừa đến, ngồi bàn bên cạnh nghe nghi vấn giữa chừng mà khát giùm, lòng nôn nao đợi câu trả lời, bổng nghe:
- Tôi không biết chuyện nầy _ chú Năm trả lời_ lòng của người ta nghĩ sao ai mà biết. Tốt nhất là cháu đi hỏi vị ấy.
- Hỏi vị ấy!_ nữ đồng đạo nhắc lại như một tiếng kêu đau _  để người ta kể chuyện tình của họ cho con nghe sao! Con không chịu vậy đâu.
- Muốn biết sự thật của câu chuyện_ chú Năm giải thích_ người ngoài làm sao biết được, phải là trong cuộc thì ta mới rõ chuyện nầy, tìm hỏi họ là chính xác hơn.
- Thưa chú con không muốn biết câu chuyện, cần hiểu nguyên nhân nào xảy ra chuyện mà thôi.
- Để cháu tránh đi nguyên nhân của người ta chứ gì?
- Dạ phải.
- Nguyên nhân, đâu có chuyện nào giống chuyện nào. Một căn nhà cháy, nguyên nhân bị cháy của nhà nầy, do người ta nấu xong dụi lửa tắt bếp, vô ý làm bắn một cục than vào đống củi khô. Những ngôi nhà khác cháy không phải đi từ nguyên nhân nầy, họ có nguyên nhân khác. Người ta bỏ tu mỗi người là mỗi nguyên nhân.
Chờ nghe không trúng ý, tôi hỏi quý huynh đệ ngồi chung bàn, vị được kêu là chú Năm tên chi mà xem Ông hiền trả lời quá. Một vị đáp: Ông ấy là chú Năm Viên Minh. Tôi định hỏi thêm nhà Ông ấy ở đâu để khi nào tiện dịp sẽ gặp Ông ta, bổng bên bàn chính sự (nơi đưa ra vụ việc) có tiếng trả lời của một nữ tu trẻ tuổi:
- Theo sự hiểu biết của tôi, người bỏ tu giữa chừng vì họ tu mà không nhắm đến mục tiêu giải thoát.
Câu trả lời của nữ tu trẻ đã làm rộn ràng lên đề tài.
Hay!_ Ông Viên Minh nói_ tôi rất đồng ý với cháu về quan điểm tu là nhắm đến mục tiêu giải thoát, nhưng trường hợp của vị tu độc thân đến 45 tuổi xụm người trong lưới tình chúng ta không thể phủ nhận những chiến công oanh oanh liệt liệt của họ trên các chiến trận từ tình cảm qua tình yêu rồi tình dục, quá nửa đời người mới xụm trong lưới tình. Họ đã đốt cháy tuổi xuân xanh hơn hai mươi lăm năm để đi vào cửa thiền môn đến da nám sạm, tóc ngả màu, dáng hết xinh, nếu không vì mục tiêu giải thoát họ có dám đốt cháy tuổi xuân của họ như vậy không? Họ đã trở thành Ông hay Bà cụ non rồi đấy mà còn bị chúng ta trêu đùa là không có mục tiêu. Nếu ta không trả lời được câu nầy mà chỉ nghi suôn chuyện, chưa chính xác thì trường hợp của vị tu kia có thể dẫn đến vị tu khác, cũng xụm nữa mà không thấy được nguyên nhân sanh ra quả.
- Dạ, con không nhận ra sự thật nầy _ vị nữ tu nói_ con xin lỗi, cám ơn chú khai thị. Thưa chú ở vào trường hợp như trên xin cho biết sự nhân định của chú là thế nào ạ?
Viên Minh đẩy đưa nhiều lần là đợi cho có nhiều ý kiến để lấy nhận định theo số đông, độ không còn ai nữa, ông đi thẳng vào trọng điểm:
- Hướng tâm hay nhắm đến mục tiêu cao là một lẽ mà dục vọng lại là một lẽ khác. Trên trận tuyến giữa chánh và tà, vọng và chơn bên nào cũng muốn giành thắng lợi. Dục vọng luôn ở thế chận đầu, cản đường khống chế sức tu hay vẽ vời cho ta lầm qua hướng khác mà ta không hay, bởi đó sự khống chế tăng dần cường độ đến đổi ta không còn sức giãy giụa như chuyện của vị tu nói trên.
- Nguyên nhân của thãm kịch ấy xin hỏi qua cái nhìn của chú?
- Theo tôi, chuyện rất đơn giản. Khởi đầu chỉ là niệm bất giác.
- Thế nào là Niệm Bất Giác thưa chú?
- Có phải tất cả người tu Phật đạo đều muốn luôn luôn được sống trong giác ngộ không?
- Dạ phải.
- Nếu nói tất cả thì đâu có lý do ngoại trừ đồng đạo 45 tuổi kia. Người có tính chuyên tu họ rào dạo sự tu không cho kẻ hỡ mới lên tới tuổi 45, và một lúc nào đó sơ suất mà sanh kẻ hỡ, dục vọng chen vào chưa kịp phá hoặc mới phá một chút liền hay, chận đứng sự phá hại và đuổi chúng ra. Không chuyên tu theo dõi sự sanh khởi, cái tâm vọng động cỡ nào cũng không hay, nó ở miết trong tâm mà đòi yêu đương hoài hoài… quý vị nghĩ coi, lâu lâu đòi một lần còn nén được, chứ hoài hoài mở mắt là nhớ mà nhắm mắt cũng nhớ, tâm bệnh đến độ nầy chỉ có Trời xuống mà cứu.
- Để tránh sự đổ vỡ giữa chừng xin nhờ chú dạy chúng con phải làm gì?
- Điều nầy trông rất khó bởi tôi chưa là gì làm sao chỉ cái vì vì đó chứ!
- Vậy qua kinh nghiệm của chú cũng được.
- Theo như kinh nghiệm của tôi, đường tu có tiến phải có thủ nữa mới được; lo tiến mà không nghĩ đến thủ là hơ hỏng lắm. Tiến tu không lòng dục vọng, hoặc lỡ có liền hay lúc nó chưa thành hình sẽ dễ đuổi hơn nếu mình chậm một chút dục vọng sẽ lên số nhiều, càng nhiều chúng càng có sức cướp quyền làm chủ. Quyền làm chủ của ta bị cướp ta còn không hay làm gì người ngoài hay giùm ta được; thấy ta cũng tịnh tọa, cúng lạy đầy đủ, nhưng cúng lạy ai, niệm ai  là quyền làm chủ của nó.
- Như chú vừa nói: mới chỉ một tên dục vọng chưa thành hình, thế nào là dục vọng chưa thành hình?
- Ví như chủ nhà và tên trộm, chủ nhà chỉ một chút sơ suất trộm vào lấy đồ; chủ nhà phát hiện kịp thời tên trộm chưa lấy được gì là bỏ chạy, chủ nhà chỉ thấy cái bống của tên trộm là mất không rõ mặt mũi của hắn, thoắt qua là quên. Vọng niệm chen vào, hành giả thoán thấy ở cái đuôi con mắt là nó mất, thoắt qua cũng quên. Chưa thành hình là ý đó. Nếu trường hợp chậm hơn, chủ nhà gặp trộm, hành giả gặp vọng niệm, không phải thoắt qua mà nó đứng chần dần, mặt mày đầy đũ, đã không đuổi còn khen nó đẹp, nó giàu… để ở lâu trong tâm, cứng khừ trần tục. Nó ở vững thì bất chấp ai la rầy: đuổi nó không đi, rược không bỏ chạy, là báo hiệu nhà đổi chủ thiệt rồi!
- Còn chú nói tu có tiến có thủ, thủ là gì ạ?
- Là tuân thủ giới luật. Muốn tránh giặc TÌNH, Sự gần gủi, qua lại với người khác phái nếu không có chuyện cần thiết về Phật Pháp, chỉ là lợi ích cá nhân của hai phía không qua lại là hay hơn, hoặc qua lại thì phải có chừng mực bảo vệ lập trường của người tu hạnh trường chay tuyệt dục, ly gia cắt ái. Tâm sanh, rất ít khi sanh điều bất lợi cho lập trường mà không có liên quan hiện cảnh. Giá như giờ ta ở trong phòng kín, tịnh tọa hoặc xem kinh đọc sách, không có sự xuất hiện của sắc sắc tài tài mà lòng vẫn bị sắc sắc tài tài theo đuổi, bởi nó đã thành hình một cuồn phim. Ví lúc ta đụng cảnh đi chung trên xe, hay làm công tác từ thiện hoặc trong lớp học giáo lý, nghe giọng nói ngọt ngào dễ mến mà nhìn về chỗ khởi nguồn âm thanh là cái mặt ngọc, hình mai,… lòng rộn ràng tâm sự. Nó dẫn sự rộn ràng tâm sự ấy về nhà, tối nay trong khóa tỉnh tâm, phòng ta trước giờ chỉ có ta thôi mà nay có thêm nó nữa… chết được! điều nầy tôi không nói thì quý vị cũng biết, nếu không đụng cảnh đi chung trên chuyến xe sẽ không có ra phim của cái giọng nói ngọt ngào, mặt ngọc, hình mai trong lòng. Phật dạy giữ giới để ngăn chận sức cuốn hút những mê say sa đọa, là thủ vậy.
- Chú có thể cho một ví dụ nào thủ được sức cuốn hút không?
- Được!
Viên Minh vừa thốt lời hứa, và Ông nhình thẳng vào vị vấn chủ như thăm dò độ nhạy cảm từ ánh mắt, tìm sự phản ảnh vị đồng đạo trẻ nầy là hành giả hay những biểu hiện khác đi… chứng tỏ tài năng và sức hoạt bát. Ông chậm nói tiếp theo tiếng “được” là gì, vị vấn chủ sốt ruột nhắc:
- Thưa chú nói đi ạ !
- Trên sông dài rộng _ Viên Minh dẫn dụ _  người ta vì nhu cầu sự sống mà xẻ kênh rạch cho nước sông vào. Kênh rạch thường là đói nước, vực nước của dòng sông cao hơn thì sức cuốn hút của kênh rạch mạnh. Thuyền đi trên sông lớn thông ra biển nếu không đề cao cảnh giác điều nầy, để thuyền mình đi chạm vàm kênh đố khỏi bị lực hút của nước cuốn vào kênh. Khi thuyền bị hút vào mà muốn trở ra là đi ngược với dòng nước chảy xiếc; tình thế thách thức khả năng bình thường, nếu thuyền trên khả năng bình thường thì chuyện đi ngược dòng chảy xiếc thì có thể nhưng cũng còn vất vả lắm mới thoát. Huống chi những thuyền ở độ trung bình hoặc dưới mức trung bình sức đâu mà đòi vượt ngược? Trong khi thuyền chúng ta còn trên sông rộng, muốn tránh bị nước hút thuyền thì phải cho thuyền đi cách xa dòng nước hút xiết, một chút ảnh hưởng cũng không có. Thuyền sẽ đi nhanh và an toàn hơn những thuyền bị nhiều trở ngại. Hãy tránh xa những thứ cám dỗ, xa ngoài lực hút của chúng để không gặp khó khăn nào trên đường về cõi Phật, thành Phật.
Tôi từ xa đến, giờ giất hối hả phải về, tiếc không được ở nghe thêm cách diễn đạt là lạ, hay hay của chú Viên Minh.
6/3/2016


Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2016

NGHI VẤN 2
BUỔI HỌC 10
NHÓM HỌC GIÁO LÝ PGHH
NÓI VỀ ÁC KHẨU (tiếp theo)
Hỏi: Để trừ đi Ác Khẩu Đức Thầy dạy “ đối với con cháu trong nhà, không nên nói những điều ác đức, phải dùng lời nói dịu dàng hiền hậu dạy dỗ chúng”. Nhưng dịu dàng hiền hậu thì chúng không nghe lời, ta phải làm sao?
Đáp: Câu hỏi nầy nghe qua thì dễ mà đem thực hành là rất khó.
Tạm thời ta không trách về việc chúng không nghe lời mà hãy coi lại bản thân của mình trước, dạy dỗ là chuyện sau, như Đức Thầy dạy “ Đối với con cháu trong nhà không nên nói những điều ác đức…” Làm Ông bà cha mẹ ta ăn ở đúng vai bề trên của chúng chưa?
“Lựa lời tiếng dịu dàng trong sạch,
Khi thốt ra đoan chúng hiền từ.
Tích thiện thì thường có phước dư,
Bằng tích ác họa ương đeo đắm”.
Nếu như đối với con cháu mình là người lớn mà chưa dùng lời dịu dàng trong sạch, đoan chánh hiền từ; miệng còn ác mà đi dạy thiện cho chúng là khó có kết quả, người ta không nghe lời phải của người quấy là đương nhiên; còn tích ác…là còn bị vọng quả. Những khi dạy chúng không nghe, lòng sanh buồn bực ta nói chúng nó là “họa ương đeo đắm” không phải không có lý nhưng ta nói trong buồn phiền chớ không nói trong cởi mở. Để hướng đến sự giáo dục tốt cho con cháu Không chỉ với chúng trong nhà mà với ai cũng phải dùng lời nói dịu dàng, đoan chánh hiền từ để cho chúng ảnh hưởng. Tục ngữ Việt Nam có câu “ gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” ta thể hiện cung cách “đèn sáng” chứ không phải “mực đen”. Nếu ta chỉ thể hiện “ đèn sáng” với con cháu mà “mực đen” với láng diềng thì chúng cũng sẽ học cách để làm mực đen với láng diềng của chúng sau nầy.
Đừng có cái kiểu chỉ huy năm ngón, kêu lính xông pha mà mình không dám; dạy con làm người tốt, đừng nói ác hay tập tụ bọn trẻ ác, xúi dục cải cha mắng mẹ trộm cắp của cải trong nhà; chỉ vậy thôi thì lời nói dịu dàng hiền hậu của ta chỉ nhằm mục đích bảo vệ hạnh phúc nhà mình, hàng rào bảo vệ còn một lổ hỏng lớn, chưa được. Gia đình ta là một trong xã hội bao la, sự liên quan từ gia đình đến xã hội rất cần thiết, con cái lớn lên không phải chỉ suốt ngày trong vòng tay cha mẹ để nghe tiếng dịu dàng hiền hậu của cha mẹ thôi. Chúng phải ra xã hội mà cái xã hội chúng đến không có tiếng nói dịu dàng hiền hậu. Lớn lên có đứa tiếp cận xã hội nhiều hơn những thân nhân trong gia đình nếu không được ảnh hưởng tốt những lời nói dịu dàng hiền hậu từ xã hội, chúng chỉ nghe tiếng nói dịu dàng hiền hậu của gia đình ít người nầy, môi trường không có sự tập huấn tốt chưa chắc con cháu nghe lời mãi mãi.
Dạy con đừng nói ác, luôn đề cao điểm thực hiện việc tốt với Ông bà cha mẹ, không quan tâm đến người ngoài thì chứng tỏ lời dịu dàng hiền hậu của ta mang tính ích kỷ vì hạnh phúc của nhà mình sẽ không có kết quả cao.
Tôi có một Ông chú bà con, chịu hết nổi với thằng con trai ngang tàn phá của; bình thường thì chú thích lo làm giàu không cần ai nói cho nghe đạo đức tu hành. Ngoài thằng con trai ngang tàn phá của, chú có cô con gái nết na đằm thắm lòng muốn trường chay tu niệm. Ly gia cắt ái thì chú lại không cho nhưng  cái thằng con trai ngang phá thì chú vái vang ai đến độ nó đi luôn cũng được. Đánh giá chú không trọng đạo đức mà chỉ trọng giàu và bảo vệ hạnh phúc giàu có của mình.
Người tốt làm việc tốt không mang tính ích kỷ, tốt không chỉ thực hiện ở nhà mình mà còn tìm cách làm tốt xã hội, dạy tốt cho con là vấn đề căn bản “tiên trị kỳ gia” mà để thiếu “hậu trị kỳ quốc” là không ổn. Nhà trong quốc gia xã hội, xã hội quốc gia không ổn ở nhà cũng không yên.
Dạy con đừng nói ác mà mình hễ ai làm trái chút xíu cũng giận lên rủa sả. Hãy kiểm điểm lại đi! thấy mình có nói lời ác thì tự giải quyết trước để làm gương. Mình tự trị để con cháu nó kính sợ mà không dám không nghe lời. Kiểm điểm thấy mình mẩu mực xứng đáng giáo dục con cháu nhưng sao vẫn gặp sự rắc rối trong gia đình… Có thể còn vài vấn đề lấn cấn thông cảm là hết ngay. Người lớn đâu ngờ rằng ăn, mặc, ở phát sinh những trái nghịch giữa một nhà hai ba thế hệ: Ông Bà, Cha Mẹ, Con Cháu, ví dụ Ông bà hồi còn thanh niên thanh nữ cách ăn mặc, xài phí khác hơn cách ăn mặc xài phí của thanh niên thanh nữ thời nay. Một số Ông Bà hiền thì có hiền nhưng tính tình cứng ngắt, bảo thủ, muốn đem cái mẩu mực thời thanh niên thanh nữ áp dụng cho các cháu; trang phục nghiêm chỉnh không lòe loẹt, bạn trăm năm phải hoàn toàn do sự quyết định của đấng sanh thành.
Người ta thường bảo “Sông có khúc, người có lúc”. Khúc sông của Ông bà xưa khác hơn khúc sông của con cháu hiện giờ mà biểu tìm khúc sông xưa mới được đi thì quá là bảo thủ từ đó tạo sự rắc rối, con cháu không nghe lời. Người xưa chưa kịp phát minh sáng tạo những nhu cầu cần dùng như vải sồ, xe cộ, máy điện tử.vv.. Tuổi thanh niên của thời Ông bà nhà có sắm chiếc xe đạp là oai lắm, may được năm ba bộ đồ trong nhà là bãnh, có cái radio ấp chiến lược phát lên cả xóm lại nghe; nhà ai giàu sắm cái vô tuyến truyền hình trắng đen thì mỗi chiều thứ bảy, chủ nhựt đông như nhóm chợ. Những thứ đắt giá lúc xưa mà giờ dân thiệt nghèo cũng coi như đồ bỏ. Việc trăm năm là dây trói cả đời người, chồng vợ của con mà làm như chồng vợ của đời cha mẹ, chỗ con không thương cha mẹ cũng bắt thương biểu sao không sanh rầy rà lấn cấn.
Người có lúc, như quý vị biết Đức Phật Thầy Tây An là cái tiền thân của Đức Huỳnh Giáo Chủ mà sự giảng dạy của lúc Đức Phật Thầy và Đức Thầy nhiều điểm không cùng. Phải chăng vì thế hệ của người xưa và người nay có khác nên giáo lý thời Đức Thầy có vẻ mượt mà hơn và tín đồ cũng theo giáo lý ngày nay tu hành mấy ai tu theo thời xưa đó. Hiểu được như vậy thì người tu không chấp pháp và Ông Bà Cha Mẹ cũng không chấp con cháu ngày nay sống khác hơn mình. Cởi mở sẽ thu hẹp khoảng cách, lời qua tiếng lại là nước chung dòng, bớt rầy rà sẽ bớt lời ác đức.
Giờ chúng ta trở lại điểm yếu của câu hỏi: Dùng lời dịu dàng hiền hậu dạy bảo chúng không chịu nghe lời ta phải làm sao?
Ta thử đặt vào trường hợp tệ nhứt là dịu dàng hiền hậu dạy chúng không nghe để con cháu muốn làm gì thì làm, hổn xược cỡ nào thì hổn được không? Nhưng nếu ta hăm he đánh đòn, đòi đuổi đi hay bỏ đói làm cho con cháu sợ mà tránh  ác hành thiện thì cũng phải tìm cách, giáo dục đi từ phương pháp đến biện pháp, con ngỗ nghịch đầu tiên cha mẹ dùng phương pháp giáo dục, chừng sự giáo dục không thấm lòng chúng nó nữa là phải xài đến biện pháp, coi như là một giải pháp tạm thời.
Nếu dùng giải pháp như thế thì ta đã không nghe lời dạy của Thầy về điều cấm “ mạnh bạo hăm he” sao?
Điều cấm là phải tuân thủ nhưng đặt ích lợi của một đứa con hoang chơi, hung ác đầy tội lỗi gây tác hại nặng nề với gia đình và xã hội, hăm he cho sợ bỏ dữ về lành để xã hội không bị hại thì Phật Trời chứng giám tấm lòng. Nếu căn cứ theo lời dạy của Đức Thầy “lời truyền sấm như bài toán đố” hoặc “ai biết tri việc phải cứ làm” ta đã có đáp số tốt và tri được việc phải làm thì làm để có kết quả tốt trong sự uốn nắn giáo dục không hay hơn sao?
Nói không có chánh văn tôi e lý luận là cách bào chửa.
Đức Phật thuyết pháp độ chúng cũng chuyên dùng lời hay lẽ phải nói ra, nhưng cũng có những người quy y Phật mà còn phạm quấy nên Đức Phật phải đề ra giới luật để cho quý Tăng Ni Phật Tử khắc phục những sai lầm, đâu có ai dám trách Đức Phật dạy đạo sao còn đem luật để áp đặt tạo khó người ta.
Ở vào trường hợp đứa con khó tính, bướng bỉnh ta có thể thương con cháu mà bỏ qua nhưng xã hội họ có chịu bỏ qua không? Lỡ như ác khẩu của nó bị người ta đánh hoặc gây chuyện lớn hơn đưa vào tù thì xét ra tình thương của ta đối với chúng không có kết quả tốt. Người sống trong xã hội ai cũng muốn an cư lạc nghiệp thiên hạ thái bình nhưng có kẻ phá hoại an cư lạc nghiệp của người khác bắt buộc nhà nước phải đặt ra luật để trị tội. Nhờ có luật pháp và nhà tù những kẻ sống bằng nghề trộm cướp vô lương sợ tù đày không dám làm bậy, nếu còn  cũng chỉ rơi rớt ít người thôi.
Xưa Đức Phật dẫn dụ ba con ngựa ví cho ba hạng người: Một con ngựa khôn ngoan nhất người chủ vừa trèo lên lưng nó thì nó tự động chạy. Con ngựa khác, lên lưng nó không chạy mà kêu chạy nó mới chạy; con ngựa thứ ba, thót lên lưng không chạy, kêu chạy cũng không chạy mà phải nện trên thân nó vài cây nó mới chạy.
Ngựa chạy hay, dạy trẻ nói lành, làm lành là mục tiêu giáo dục, không cách nầy thì cách khác miễn sao chúng nghe lời cha mẹ dạy thành người tốt. Nhưng phải chịu rầy mắng ăn đòn trẻ mới nghe lời là cách trị thấp nhứt, hết cách mới sử dụng cách thấp nhứt nầy.

5/3/2016

Thứ Ba, 1 tháng 3, 2016

CÓ NÊN BÀN NHIỀU VỀ THIÊN CƠ KHÔNG?

Một số không ích đồng đạo thích bàn tán Thiên Cơ, bàn “ghiền”hơn người ta bàn luận về giáo lý với nội dung tu hành. Tiên đoán hết năm tháng năm nầy đến tháng năm khác về việc chừng nào đời tới.
Tôi nhớ ra rằng trước ngày 30/4/1975 hồi đó đi đâu rất ít nghe ai bàn thiên cơ mà từ cộng sản lên nắm chánh quyền đến giờ bốn mươi năm qua năm nào cũng như năm nào rần rộ với nhau mà bàn việc đời tới. Có lẽ vì dân không chịu nổi bởi một chánh quyền độc đảng độc tài muốn Trời Phật Thần Thánh xuống tay tiêu diệt cõi hồng trần cho chết hết còn hơn sống khổ như vầy. Nhớ hồi hút thuốc bằng giấy vò, gội đầu bằng nước tro, mua đinh xin giấy… người ta thường đọc câu” Đời sao không tới phức cho rồi”. Lần dò qua các Sấm Giảng lựa câu nào có hơi tiên tri tai nàn sắp xảy đến rồi ghi vào, rồi kỳ hẹn, tháng nào trong mỗi năm đùng một cái quả địa cầu tiêu tan tro ra bụi. Bất chấp lời răn dạy của Đức Thầy trong “Tôn chỉ hành đạo” ghi rõ ràng qua đề mục “Sự Học” như sau:
“…dẹp bỏ những điều huyễn hoặc không bàn tán chuyện xa vời (như tiên đoán Thiên Cơ chẳng hạng)”.
Thiên Cơ là gì?
Thiên là Trời, là điềm báo. Thiên Cơ nói chung là điềm báo của các bậc siêu nhân, trên trước. Đức Thầy từ cõi Phật lâm phàm có trách nhiệm với Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni và Đức Di Đà giáo độ chúng sanh, qua giáo lý có tiết lộ máy Trời, thế gian nầy sẽ bị tận diệt để lập lại đời tân, như những câu dưới đây:
“Khắp thế giới của nhà tan nát,
Cùng xóm làng thưa thớt quạnh hiu.
Bấy lâu nay nuôi dưỡng chắc chiu,
Nay tân diệt lập đời trở lại.
Khắp lê thứ biến di thương hải,
Dùng phép mầu lập lại Thương Ngươn.
Việc thiên cơ khùng tỏ hết trơn…”
Nói thiên cơ để thúc giục người mau mau phát tâm tu niệm:
“Việc biến chuyển thiên cơ rất gấp,
Khuyên chúng sanh hãy rán tu hành.
Cầu linh hồn cho được vãng sanh,
Đây chỉ rõ đường đi nước bước.”

Vì cơ tận diệt xảy bất chừng, biết được thì tu liền cho kịp. Đọc một lần hai lần là nhớ thì thôi, lo tu tránh khổ. Thiên cơ đâu phải là pháp môn dạy tu mà là một động cơ thúc đẩy tiến trình tu; không phải pháp môn tu thì không cần bàn bạc nhiều mất thì giờ mà tư tưởng hệ lụy vào đó. Thay vì lập đi lập lại cái câu chứa đựng thiên cơ ta hãy lập đi lập lại câu niệm Phật cho thuần niệm sẽ hãy hơn. Vì thuần niệm, số tử xảy ra bất chừng ta niệm Phật được trong giờ phút lâm chung, vãng sanh Tịnh Độ, công tu hành bao năm không phí uổng, nếu đem thiên cơ vào bụng để nó làm chủ tình hình, đầu óc lúc nào cũng nghĩ tới thì khi đến lúc lâm chung, do bụng chứa thiên cơ mà niệm Phật ít oi không chống nổi với cận tử nghiệp chuyên tâm niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh Độ.
Không phải vì sợ tận diệt mà cứ bàn hoài, bàn hoài năm nào tháng nào đời tới. Tôi nghĩ chúng ta nên trở lại tiết mục “Sự Học” để theo dõi nghiên cứu phần nội dung:
“Sự học hành không làm trở ngại cho đạo đức. Trái lại, nhờ nó mình biết được rõ ràng giáo lý cao siêu của tôn giáo. Nó tránh cho mình những sự lạc lầm, bỏ các điều dị đoan mê tín. Nó làm cho mình dẹp bỏ những điều huyễn hoặc không bàn những chuyện xa vời (như tiên đoán thiên cơ chẳng hạn…)
Theo bài “Sự Học” chúng ta thấy ý nghĩa rõ ra như ban ngày: nhờ có học mà biết rõ ràng giáo lý cao siêu của tôn giáo, không lầm lạc dị đoan mê tín, không bàn bạc những chuyện xa vời và nhất là không tiên đoán thiên cơ. Nếu như đi ngược lại Sự Học của Đức Thầy dạy là không rõ biết giáo lý cao siêu của tôn giáo sẽ dẫn đến lạc lầm, dị đoan mê tín, bàn bạc những chuyện xa vời, tiên đoán thiên cơ…
Ngoại trừ Đức Thầy và các vị trên trước, việc tiên đoán thiên cơ nếu không phải là điều cấm kỵ trong tín đồ PGHH thì cũng bị Đức Thầy quở trách là “bàn bạc những chuyện xa vời”,. Thế nào là bàn bạc xa vời? Ngài đưa ra một sự kiện điển hình “như tiên đoán thiên cơ chẳng hạng”.
Chúng ta thấy rõ Đức Thầy báo cơ tận diệt sắp đến để chúng sanh sợ mà tu chớ không phải nói để cho chúng sanh dựa theo thiên cơ mà bàn chết bàn sống. Đức Thầy loại bỏ những mâu thuẫn trong lời dạy dẫn đến thực hành nhưng tín đồ thích bàn chuyện xa vời nên cứ cho nó luôn tồn tại. Bàn về cơ tận diệt, sự chết chóc thê thảm nầy chúng ta nguyện trước bàn thờ Phật mỗi ngày hai lần “ Nam Mô tây phương cực lạc thế giới đại từ đại bi phổ độ chúng sanh A Di Đà Phật” và “Nam Mô nhứt nguyện cầu thiên hoàng địa hoàng nhơn hoàng liên hoa hải hội thượng Phật từ Bi Phật Vương độ chúng thế giới bình an”. Câu nguyện quá rõ ràng, Cầu Chư Phật và các vị ơn trên phổ độ chúng sanh được sống trong thế giới bình an mà ta cứ bàn bạc trông hoài, trông hoài cái cơ tận diệt đến tức là làm phản lại câu nguyện Phật độ chúng thế giới bình an. Ta phân ra hai cái tâm: Tâm cầu nguyện các ơn trên độ cho thế giới bình an, và cái tâm trông hoài sự chết chóc khổ đau của cơ tận diệt đến. Đúng là mâu thuẩn lạ kỳ! Ham bàn quá đã bàn trật nhiều lần mà cũng cứ bàn thêm, không ngượng miệng.
Đời khổ mà mình tu được mới hết khổ chứ bàn tán việc khổ thì ăn thua gì, khổ không hết đâu! Phải thật tu mới thoát được sự tận diệt của máy huyền cơ, bàn về máy huyền cơ hết ngày nầy sang ngày nọ tưởng vậy là tu sao! Thảo nào Đức Thầy chẳng bảo:
“thiên cơ số mạng biết tri
Mà sao chẳng chịu chạy đi cho rồi”
Tôi cho rằng quý vị hay bàn thiên cơ đã dựa vào một đôi câu giảng nào đó của Đức Thầy viết trong Sám Giảng Thi Văn Giáo Lý đọc vẽ lên cho người nghe tin tưởng để họ ngồi lâu cho mà bàn mà thuyết. Sám Giảng hay Thi Văn Giáo Lý PGHH chính tay Đức Thầy viết, trong đó có Quyển Sáu, chúng ta thường gọi là “Tôn Chỉ Hành Đạo”. Tôn Chỉ Hành Đạo không phải là tên đặt tựa đề, là cụm từ trong một bài văn “ LỜI NÓI ĐẦU” cho Quyển Sáu như sau: ” Năm năm trường xa cách, cái chánh sách áp bức tôn giáo gắt gao của người Pháp làm cho tôi không được gần gũi các người hầu giải bày tường tận tôn chỉ hành đạo của tôi”. Cụm từ Tôn Chỉ Hành Đạo đã làm nổi bật ý nghĩa của sự tu học PGHH, chúng ta lấy đó mà đặt tên cho vừa ý, kêu riết thành quen miệng chứ tên gọi của quyển sáu Đức Thầy đề tựa là “CÁCH TU HIỀN VÀ SỰ ĂN Ở CỦA MỘT NGƯỜI BỔN ĐẠO”. Giá trị của Tôn Chỉ hành Đạo thì cốt lỏi hơn vì là bản sắc của tôn giáo nằm trong đó. Khi tôn chỉ hành đạo đã xác định bộ mặt thật của thiên cơ và cho tiên đoán thiên cơ là một sự kiện điển hình của cái gọi là “bàn những chuyện xa vời” thì đừng nên mượn câu giảng chỗ khác đọc lên để đối chiếu, biện hộ.
Trong bài TƯ TƯỞNG Đức Thầy viết:
“ KHUYÊN NIỆM PHẬT THAN RẰNG CHƯA RẢNH,
LÚC BẮT HỒN MẮC VIỆC CŨNG ĐI”
VÀ:
“ PHẢI RÁN TU ĐẶNG MÀ CHẾT,
CHỚ ĐỪNG ĐỂ CHẾT ĐẾN MÀ CHẲNG CÓ TU”
Kính chúc tu hành tinh tấn.
02/3/2016