Thứ Sáu, 5 tháng 2, 2016

LƯỢM LẶT NHỮNG CHUYỆN VỀ ÔNG THANH SĨ

Cũng như mọi năm, ngày 25, 26 tháng chạp năm nay 2015 đồng đạo từ các nơi đổ về Tổng Định Hòa, xứ Cù Lao Ông Chưởng dự lễ cúng giỗ Ông Thanh Sĩ một vị cao đồ Phật Giáo Hòa Hảo. Dùng từ “Cúng Giỗ” vì từ bên nước Nhựt đã đưa về tro cốt mà đồng đạo lấy đó gọi theo dân gian cho có lệ, phần đông không tin Ông Thanh Sĩ qua đời nên ở vào trường hợp của Ông người ta gọi là ngày kỷ niệm. Chúng ta không phải giới thiệu để người khác mới biết về Ông Thanh sĩ; cứ đọc bộ “Hiển Đạo” của Ông là biết về Ông hơn cả người khác giới thiệu. Bìa cho một bộ sách “Hiển Đạo”của người hâm mộ sách ấn hành, có trích đề những câu:
THANH TÂM KIẾN CHƠN PHẬT
SĨ KHÍ PHÙNG CHÁNH GIÁO
HIỂN PHÁP PHẬT NHÂN HÒA
ĐẠO KHAI MÔN TỪ HẢO.
Nếu trích đọc hai hàng chữ của bên phải và bên trái thẳng xuống thành ra như vầy: THANH SĨ HIỂN ĐẠO PHẬT GIÁO HÒA HẢO.
Người tín đồ trong đạo, có đọc Sám Giảng, Thi Văn, đều biết lời kêu gọi của Đức Thầy “ Hiệp cùng nhau truyền bá kinh lành”. Xét qua thực tế những gì Ông làm là hành sự đúng theo lời kêu gọi nói trên. Phần đông đồng đạo nhận định không ai hơn Ông qua khả năng truyền bá giáo pháp Phật Giáo Hòa Hảo và trong hàng tín đồ chưa ai có được lễ cúng kỷ niệm đông đảo trang trọng như Ông, vượt quá xa phạm vi gia đình để đến với sự hội tụ của cộng đồng.
Như tựa đề đã nêu “Lượm lặt những chuyện về Ông Thanh Sĩ”.
Một lần đi dự lễ cúng tuần nhà của đồng đạo quen ở thị trấn Chợ Vàm (xưa thuộc         quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc nay huyện Phú Tân tỉnh An Giang) tôi may mắn làm quen một người, anh ta là cháu kêu cụ Vương Kim Phan Bá Cầm bằng chú kể tôi nghe câu chuyện về Ông Thanh Sĩ và xuất xứ của câu chuyện nầy anh nói là thím anh _ phu nhân Phan Bá Cầm_ kể lại:
HỌC VÕ TRONG CHIÊM BAO
Xưa có thời gian Ông nhà tôi sống ở làng Long Kiến, Tổng Định Hòa, gần nhà Ông Thanh Sĩ Trần Duy Nhứt. Theo chỗ tôi biết thì lúc đầu Ông nhà tôi không mấy thích chú Nhứt như một lần lở lời:
- Giặc Pháp xâm lăng ăn tươi nuốc sống nước ta, đáng lẽ chú phải lo mà luyện tập võ nghệ, thân thể cường tráng để có dịp đỡ đần cho nước chứ gầy yếu thế nầy thì nợ nước thù nhà làm sao?
Ông Thanh sĩ tuồng như không nghe nên không đáp, Ông nhà tôi cũng không nói thêm nhưng lòng hơi khó chịu. Ngay tối hôm đó Ông nhà tôi ngủ say sưa, bổng Ông đánh võ hồi nào, đánh đá vụt vụt guộng tốc cả mùng. Đùng đùng quá tôi giựt thức, thấy múa mái phát sợ, liền nhào lăn ra khỏi mùng, tỉnh hồn, tôi kêu lớn tiếng:
- Ông ơi!
Nghe tiếng kêu, Ông nhà tôi dừng đánh đá, ngồi mà thở mệt,
- Đánh gì chứ? _ Tôi hỏi _ bộ gặp ma hả?
- Bà làm tôi tức chết được!
- Sao?
- Chú Trần Duy Nhứt vừa dạy võ cho tôi, miếng võ nầy tuyệt lắm. Học chưa chi bị bà làm bế môn.
- Chú Nhứt dạy võ cho Ông sao?
- Bà còn hỏi…
- Sao Ông không nói trước cho tôi tránh.
- Chiêm bao bất chừng…
- Bởi đó tôi không biết là phải.
Sáng lại trong nhà đông người, nói năng liên tục, ồn ào khó mà trụ nhớ… Ông nhà tôi ra đường đi lên đi xuống chầm chậm để ôn lại miếng võ trong chiêm bao. Bổng gặp chú Nhứt đến, Ông nhà tôi chưa mở lời thì chú ấy hướng mặt về Ông nhà tôi, nói:
Tiếc chuyện đêm hôm lắm hả? Đừng lo, có ngày sẽ học lại được.
Nói xong chú Nhứt bỏ đi.
Mấy hôm sau, Ông nhà tôi lòng thao thức mãi cái chuyện nói lở lời với Ông Thanh Sĩ về việc tập luyện thân thể cường tráng để trưng dụng cho quốc gia đại sự mà tối lại bị phạt học võ. Chuyện còn trớ trêu hơn, người dạy võ cho mình lại là một thanh niên trẻ trung thân vóc ốm o, chưa từng thấy Ông ta tập một lần võ nào.
Việc chiêm bao thôi cứ cho là mộng mỵ không tin cũng được, nhưng sáng ngày gặp chú Nhứt là gặp thiệt, một con người bằng xương bằng thịt không phải chiêm bao mà nói rõ chiêm bao của mình với sự tiếc uổng không học hết miếng võ, là sao?
LỜI BÀN:
Kể từ đó, cụ Vương Kim lần hồi thân thiện với Ông Thanh Sĩ. Sau nầy còn truyền bá tư tưởng của Ông Thanh Sĩ qua nhiều quyển sách do Ông biên soạn.
Đây mới là câu chuyện đầu đề.
Mong rằng, ai có đọc qua tác phẩm “Hiển Đạo” của Ông Thanh sĩ mà cảm kính tài đức, pháp đức; có biết những chuyện về Ông… Nếu lòng mong phổ hóa, xin hãy gởi câu chuyện qua đường dây liên lạc email: kieulehb@gmail.com. Hoặc trang facebook triết lê, để đăng thành trang riêng về Ông Thanh Sĩ. Đa tạ!
6/2/2016
Lê Minh Triết



Thứ Tư, 3 tháng 2, 2016

NHÓM HỌC GIÁO LÝ PGHH
BUỔI HỌC 9
NGHI VẤN 1

Sau phần chú giảng chánh văn của hai ác thuộc khẩu nghiệp: Lưỡng Thiệt và Ỷ Ngôn, đồng đạo học viên đưa ra những câu nghi vấn. Chúng tôi lần lược xin viết lại những nghi vấn ấy đầy đủ hơn để làm tài liệu đọc thêm. Nghi vấn 1:
Hỏi: Theo đức Thầy có cả thảy  năm dạng Ỷ Ngôn
: Chủ ỷ quyền Ỷ Ngôn, Quan ỷ thế Ỷ Ngôn, giàu ỷ tiền Ỷ Ngôn, xảo quyệt ỷ lanh mồm Ỷ Ngôn, học thức ỷ khôn ngoan Ỷ Ngôn. Tôi không nằm trong những viện nầy mà nằm ở chỗ vợ chồng. Nhân gian có câu “ chén úp trong sóng còn khua”. Nói tóm lại, nặng lời với nhau trong vợ chồng có bị mang tội Ỷ Ngôn không? Nếu không xin giải thích thế nào là không, còn bảo có; dạy đạo cho hạng Tại Gia cư Sĩ, hạng nầy thường là có vợ có chồng. Đây là số đông nhứt của các hạng tại sao Đức Thầy không dựa vào số đông đặt ác Ỷ Ngôn vào đó?
Đáp: Câu hỏi rất dài và hỏi với tính lý luận biện chứng. Tôi xin trình bày với quý vị qua phân tích, mổ xẻ:
-         Ngoài năm dạng Ỷ Ngôn của Phần chánh văn, vợ chồng nặng lời to tiếng với nhau có bị coi là Ỷ Ngôn không?
-         Nếu có, tại sao Đức Thầy không để vào phần chánh văn cùng với năm dạng kia?
1. Ỷ Ngôn, tức dùng lời nói hạ nhục, bất kỳ là hạ nhục ai cũng đều mang tội. Đừng nói là vợ hoặc chồng, ngay cả con cháu. Ông Bà, Cha Mẹ đối với con cháu cũng thế, không được phép ỷ ngôn với chúng. Vợ chồng đối nhau bằng tình thương, bằng cái đạo phu thê. Ông Bà cha mẹ đối với con cháu cũng bằng tình thương và đặt nặng tính giáo dục.
Kính thưa quý vị ! Đề tài nầy, tôi thấy đi trọn vào cuộc sống của tại gia cư sĩ, rất cần được mở rộng. Như chúng ta bàn qua: Chồng vợ đối nhau bằng tình thân thiện, trau đổi, nhẹ tính giáo dục. Tình thương bắt đầu từ sự tin tưởng, không tin tưởng mà nói là thương chỉ là thương để nói, gượng gạo.
Khi đã là phu thê, xuất thân từ hai gia đình để cộng hợp thành một gia đình mới, hai vợ chồng đều là chủ nhân của ngôi nhà và tài sản, rất cần thiết có sự bảo bộc, bảo đãm tốt trong chuyện lứa đôi, bảo bộc bằng tình thương chớ không bằng giáo dục. Đừng có mỗi chuyện sai trái là mình đặt tiêu chuẩn lên lớp dạy đời. Là vợ chồng với nhau bấy giờ qua cái tuổi học nhà trường, bắt đầu sử dụng học hành khác hơn trước. Xưa học là ôm đồm chữ nghĩa, đậu rớt, nay học qua kinh nghiệm để bảo vệ hạnh phúc hôn nhơn, gia đình bằng tư duy kinh nghiệm và trải nghiệm. Có muốn cho người bạn trăm năm học hỏi kinh nghiệm của mình học hỏi thì khéo léo một chút, đừng bày ra cái chuyện Thầy dạy học trò hay những thái độ tương tự. Lộ liễu cái tính Thầy trò sẽ làm cho người bạn đời dị ứng, khi đã dị ứng thì không còn là tình thương mà là tình ác. Tình ác tới thì đừng hồng nói lý lẽ, hai bên Ỷ Ngôn chồng đống ra, chửi lộn cũng chơi đừng nói ai nhường ai, có người còn quên tình nghĩa vợ chồng, xưng hô mầy tao tới bến.
Ở vào trường hợp tại gia cư sĩ Học Phật Tu Nhân, ngoài sự giáo dục nhà trường và ta lớn lên nhận thêm sự giáo dục của tôn giáo. Đạo Phật dạy tu theo tám con đường chánh, bước đầu là Chánh Kiến sang Chánh Tư Duy… Chánh Niệm, Chánh Định để gột rữa trần tục và tội lỗi. Điều đáng lưu ý là, tôi biết tất cả quý vị đây đều thuận duyên, vợ chồng cùng một tín ngưỡng Phật Giáo Hòa Hảo và cùng tu, lập trường tôn giáo không có cái cảnh trống đánh xuôi mà kèn thổi ngược thì dễ dàng qua niềm tin đạo và người đạo đặt lên hàng đầu; đối lại người nầy muốn cho người kia tin mình thì hãy coi lại bản thân và những hành động của mình đi. Nói tu mà không vào chánh kiến… không qua tư duy chân chánh để vào chánh niệm, chánh định, thì người nọ đâu tin. Từ chỗ không tin tưởng mà để lâu sẽ đi đến thất kính, đụng chuyện cãi lý là Ỷ Ngôn xuất hiện.
Vợ chồng cùng tín ngưỡng và đồng tu, tất nhiên ngoài hôn nhân ta còn cái tình đồng đạo, nhằm lúc đối đải không xử sự theo hôn nhân mà đối đải với tinh thần đồng đạo, bỏ đi cái quyền chồng hay quyền vợ mà sống nhau trên cái quyền tự do tín ngưỡng, vợ chồng bây giờ là  đồng đạo thì trong bàn chuyện phải giữ tư cách đạo của mình. Đạo ở đâu hay đạo ở đây đều theo lý lẽ chân thật. Thế gian một số không ít không áp dụng lý lẽ chân thật đó một cách bình đẳng, họ dùng đạo với tính xã giao, đối đải với người ngoài, xa và lạ thì nâng niu chiều chuộng còn đối sử với người đạo trong nhà đáng lẽ theo công thì nên lo lắng nâng niu hơn; vì đồng đạo trong nhà, gần gủi đã hay mình bệnh hoặc ăn không ngon ngủ không yên trước hơn ai nên đã lo thuốc thang, cơm cháo và còn thêm vổ về thế mà mình cứ hay sanh chứng không chịu coi người đạo trong nhà là đồng đạo, không chịu áp dụng sự nhu mì, hiền hòa, nói ra là phủ quyền chồng, quyền vợ; đụng chuyện Ỷ Ngôn xối xả.
Đồng đạo bà xã trong nhà cũng muốn cùng chồng đi chùa hay đi hành hương chiêm bái mà Ông hay bà không muốn đi chung. Có xe thà chỡ ai chớ không chịu chỡ đồng đạo bà xã và cũng có đôi nơi ngược lại đồng đạo bà xã nầy muốn ngồi cùng xe với không phải đồng đạo chồng mình. Giống như người ta bảo mật sự thầm kín không cho đồng đạo trong nhà biết. Tạo những nghi nan cỡ đó là mất tin tưởng nhau chuyện ngoài đường, về nhà hai bên mặc sức mà đôi co, Ỷ Ngôn cao vút.
Muốn dạy dỗ con cháu đừng Ỷ Ngôn, bài dạy hay nhứt là người lớn của chúng phải treo gương trước không ỷ ngôn để chúng noi gương. Tuyệt đối đừng có cái kiểu dạy, bắt buộc chúng làm mà mình không làm. Bài học không nhanh hơn khi người ta tập nhiễm, học cả ngày hay suốt tháng chưa thuộc bao nhiêu mà tập nhiễm một chút là xóa sạch cả tháng trời mình học. Hỏi ra thì nhớ trình bày, nhưng chỉ để nói thôi. Nếu chúng tập nhiễm Ỷ Ngôn từ Ông Bà Cha Mẹ của chúng mà kêu họ học sách vở để đừng ỷ ngôn thì nhằm nhò gì, còn lâu mới được.
2. Sở dĩ Đức Thầy không đặt Ỷ Ngôn trong việc Vợ Chồng vào bài học  theo sự thắc mắc của đồng đạo vừa nêu, năm dạng ỷ ngôn trong phần chánh văn là dạy theo lối tiêu biểu. Thế gian nầy có bao nhiêu người là có bao nhiêu cách ỷ ngôn khác nhau, thế là Đức Thầy cũng bỏ sót họ chứ đâu riêng bỏ sót trong việc vợ chồng. Tính chất phạm tội của năm việc phạm tội Ỷ Ngôn là: Chủ ỷ quyền, Quan ỷ thế, Giàu ỷ tiền, Quỷ Quyệt ỷ lanh, Học thức ỷ ngoan là trình bày bộ mặt xã hội; vợ chồng đâu cũng có nhưng nó nằm gọn trong gia đình. Thiết tưởng không cần đề mục dạy chỉ, coi các cái ỷ ngôn tiêu biểu đã gây tai hại thế nào thì rán mà tránh dẫn nó về nhà mình là được rồi.
Câu nhân gian thường nói “ Chén úp trong sóng còn khua” chính là câu biện luận để không thừa nhận tội ỷ ngôn hoặc thừa nhận giữa giời; nó giống như câu “Bần cùng sanh đạo tặc cần phải là câu chữa mình của bọn bất lương vô đạo” vậy. Nếu không phải hạng bất lương vô đạo thì không được phép áp dụng bần cùng sanh đạo tặc. Một tín đồ ngoan đạo chặc chịa lời dạy của Đức Thầy không được ỷ ngôn bất cứ trường hợp nào thì đừng đựa vào câu “chén úp trong sóng còn khua” để dễ dàng tha thứ mình trước các tật xấu, ác, Ỷ Ngôn.
4/2/2016
( còn tiếp)





Thứ Ba, 2 tháng 2, 2016

BUỔI HỌC 9
NHÓM HỌC GIÁO LÝ PGHH
QUA HAI ĐIỀU ÁC:
LƯỠNG THIỆT và Ỷ NGÔN
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

Kính chào chư quý đồng đạo! Hôm nay chúng ta học hai trong bốn cái ác của phần khẩu nghiệp, tội lỗi do không kềm chế miệng lưỡi gây nên . Vừa qua ta học hai điều ác trong phần thân nghiệp, nhờ quý vị chuyên chú theo dõi nên đã nảy sinh nhiều câu hỏi hay ho, lấp bớt kẻ hở trong nghiên cứu và học hạnh. Tôi hy vọng buổi học hôm nay cũng thế, sinh động qua những chi tiết nhỏ của bài chánh văn hay khi chú giảng, chúng ta cùng thao thức đề tài, bắt đầu nhá!
PHẦN 1 : CHÁNH VĂN
LƯỠNG-THIỆT.- Đứng đầu các tội lỗi do miệng lưỡi gây ra, ác lưỡng-thiệt nầy đã làm duyên-cớ cho những sự hiểu lầm nhau, những sự cãi- vã, gây-gổ sanh oán sanh thù. Sự phải của người thì bớt, sự quấy của người thì thêm, cái lưỡi đã tạo những sự chia  rẻ, những cuộc phân-tranh, phá tan sự đoàn-kết, tình thân yêu giữa nhân-loại. Nó cũng là cội-nguồn của bao nhiêu bất hòa, hiềm-khích.
Để giải-trừ những tai-vạ ấy, phải giữ cho lời nói mình được thành-thật chánh-đáng, được vậy trong hương-đảng mới bớt rầy-rà, ngoài xã-hội không điều xích mích và mình cũng không còn chịu ác-cảm, tránh sự miệt-khinh của kẻ khác.
Ỷ NGÔN .- Nói đến tội nầy tức là nói đến những vụ chủ ỷ quyền nhiếc xài, quan ỷ thế mắng chưởi dân ngu. Kẻ giàu có thường ỷ tiền bạc xài-xỉ người nghèo, kẻ xảo-quyệt ỷ sự khôn-lanh nói những điều thất thiệt, kẻ học-thức ỷ sự khôn-ngoan dùng lời nói hạ-nhục người dốt-nát.
Hãy tránh những sự hiếp người như thế ấy, vì những kẻ dưới tay mình cũng có đầu óc, cũng biết nghĩ suy, nhưng tại họ bạc-phước vô phần nên phải chịu lụy mình vậy. Nếu họ có lỗi lầm hãy dạy dỗ họ, dùng những cam-ngôn mỹ-từ, những lời trang-nghiêm êm-dịu chỉ bảo, không khá bao-biếm mà mang điều tội-lỗi.”
PHẦN 2: CHÚ GIẢNG
LƯỠNG-THIỆT: Lưỡng là hai, thiệt là cái lưỡi. Lưỡng thiệt tức nói người hai lưỡi. Vốn thật có người hai lưỡi sao? Một miệng thì một lưỡi thôi, nhưng Phật muốn nói về con người có tánh thích đâm thọc mà sanh sự bất hòa, nên gọi là hai lưỡi.
Duyên-cớ: Duyên là nguyên nhân, cớ là sự việc, sự cớ của nguyên nhân đó, ví dụ: Duyên-cớ gì hôm qua bạn không đến lớp học giáo lý? Hoặc nói, đương không vô duyên vô cớ mà bạn giận dữ với người ta.
Cãi-vã: Cãi là nói ngược lại vấn đề, ngược lại chuyện đang có, đã có, vã là một trợ từ làm cho mạnh nghĩa chữ trước. Cãi vã làm ồn rùm lên, tranh cãi ai giỏi thì hơn không cần lý lẽ.
Gây-gổ: Gây là cột buộc đối phương vào thế trận để bắt bẻ, gổ là trợ từ. Thông thường, gây gổ dùng cho những ai có tính tình nóng nảy, trịch ý một chút là nổi nóng, lấy cớ để xài xể người khác.
Phân tranh: Phân là chia rẻ ra. Ví dụ: Phân chia tài sản, hay phân biệt cao thấp, giàu nghèo; tranh là giành lấy, như giành lấy quyền lợi, giành lấy uy tín. Phân tranh đây do vì kẻ hai lưỡi đâm thọc mà nghi kỵ lẫn nhau nên mới xảy ra sự chia rẻ mà hai bên bên nào cũng muốn đề cao mình.
Đoàn-kết: (Thưa quý vị danh từ nầy cần phải được chú giảng rộng ra) Đoàn là hợp lại như đoàn tụ, hợp đoàn; kết là cấu lại với nhau, cấu kết. Danh từ nầy nói lên một sức mạnh của số đông. Để làm gắn bó trong sự đoàn kết người xưa đã khuyến khích nhau câu “Một cây làm chẳng nên non, ba cây dụm lại nên hòn núi cao”. Làm người, việc bảo vệ quốc gia trước ngoại xâm là trọng, viết bài “Tiếng chuông cảnh tỉnh” Đức Thầy kêu gọi sự đoàn kết để tạo nên sức mạnh:
“Hỡi những kẻ có lòng yêu nước,
Nghe lời khuyên tỉnh được giất mê.
Anh em lớn nhỏ quày về,
Hiệp chung một khối chế hề phân ly.
Đả đảo bọn Nam Kỳ nô lệ,
Kiếp cúi lòn thế hệ qua rồi.
Lời vàng kêu gọi khắp nơi,
Anh em chiến sĩ nhớ lời ta khuyên”.
Một sáng tác khác dưới tựa đề “Gọi đoàn thanh niên” Ngài cũng kêu gọi đoàn kết:
“Vậy anh em hãy chung lưng lại,
Dùng sức mình đánh bại kẻ thù.
Tỏ ra khí phách trượng phu,
Vung long tuyền kiếm tận tru gian thần.”
Đó là đoàn kết qua vai trò quốc gia, đến như người đạo đức tu hành Đức Thầy cũng kêu gọi sự đoàn kết:
“Lòng trẻ thảo biết đoàn biết kết,
Phí xác phàm mê mệt đâu nài.
Băng rừng vẹt phá gốc gai,
Đưa người lương thiện đến ngay Niết-Bàn”.
Để thể hiện sự đoàn kết đó, Đức Thầy dạy:
“Tóm tắc, ta phải thương yêu lẫn nhau như con một cha, dìu dắt lẫn nhau vào con đường đạo đức.”
Kính thưa quý vị! Đức Thầy kêu gọi sự đoàn kết để tạo nên sức mạnh cho quốc gia và tín ngưỡng tôn giáo, nhưng bị kẻ hai lưỡi đâm chỗ nầy, thọc chỗ nọ làm cho hai bên hiểu lầm mà chia rẻ, mất đoàn kết.
Cội-nguồn: Cội là gốc, nguồn là mạch dẫn từ gốc. Cội nguồn cũng gọi là nguồn gốc, là nơi phát tích của vấn đề đặt ra. Tục ngữ Việt Nam có câu “Cây có cội, nước có nguồn: Trên cành cây có hoa lá xanh tươi tríu mắt cũng nhờ bên dưới có cội cây, nhu cầu nước ta dùng cũng có nơi phát tích. Nhưng sự phát tích ở đây là lưỡng thiệt làm cội nguồn sanh ra tội lỗi.
Hiềm-khích: Hiềm là nghi ngờ, không vừa ý; khích do chữ khiu khích, bài xích, mà ôm oán hận. Hiềm khích là đối kỵ nhau.
Tai-vạ: Tai là nạn ách, như tai ương; vạ, như là họa, từ đâu đến. Tai-vạ là nạn do bở tai bay họa gởi.
Hương-đảng: Hương là thôn xã, đảng là làng xóm. Hương đảng ý nói lên tình người trong xóm làng.
Ác cảm: Ác ngược lại với thiện, cảm là động lòng. Ác cảm tức làm người ta động lòng nghĩ ác.
Kết thúc phần ác Lưỡng Thiệt tôi xin kể một câu chuyện để thấy rõ tác hại của lưỡng thiệt là thế nào.
Xưa trong đời nhà Đường bên Tàu có một nhóm người anh hùng, triều đình tặng cho nó cái tên là “Thập bát phản vương”. Tần Thúc bảo cũng là vị anh hùng trong nhóm, ngày chúc thọ mẹ, Ông mời bạn bè đến tham dự. Trình giảo Kim muốn đi chúc thọ cụ bà ngặt trong tay không tiền thì lấy đâu mà làm quà tặng, bổng gặp  một Ông nhà giàu có đám tùy tùng vận chuyển hàng hóa. Trình Giảo Kim nghĩ nên đánh cướp chiếc xe chỡ hàng, bán lấy tiền mua vật gì ý nghĩa làm quà chúc thọ. Kim Ra sức đánh, rủi thay, Ông nhà giàu kia võ công cao cường, Giảo Kim đánh không lại, tay trắng vẫn hoàn tay trắng. Đến nhà Tần Thúc Bảo mới nhìn, thì ra Ông nhà giàu kia là Đơn Hùng Tính cũng đến dự lễ chúc thọ Tần Mẫu. Giảo Kim nhìn Đơn Hùng Tính phát nhột mắt, chữa thẹn bằng cách đâm thọc chơi. Lại La Thành thì đâm: Đơn Hùng Tính nói chú mầy còn nhỏ, nhờ có cha làm quan mà phách lối. La Thành nghe qua là phực giận nhưng nghĩ là huynh đệ nên đè nén sự giận dữ cho vui tiệc chúc thọ. Tới bên Đơn Hùng Tính là thọc ngang hông: La Thành nói anh giàu là do những việc làm bất chánh. Đơn Hùng Tính nghe qua cũng nóng rang rang đầu nhưng cố dằn lòng.
Thế từ đó hai nạn nhân của cái tội lưỡng thiệt bởi Giảo Kim cứ dè nhau mãi mà Giảo Kim càng lúc thúc vào những trách móc, khiến cho khoảng cách của tình bằng hữu mỗi lúc mỗi xa, hết cách cứu giãn, rốt cuộc Đơn Hùng Tính bị giết bởi La Thành.
Ỷ Ngôn: Ỷ là cậy thế, dựa vào; ngôn là lời nói. Ỷ ngôn tức nói ra những lời sỉ nhục cai đắng, xúc phạm đến danh dự của người khác, nhất là kẻ dưới tay mình.
Chủ Ỷ quyền: Ỷ vào quyền chức, địa vị chủ cả mà phát ngôn độc miệng với kẻ dưới.
Nhiếc xài: Mắng nhiếc xài xể người mình không ưa, không thích mà họ phạm quấy, hoặc những kẻ thấp thỏi dưới tay mình, nói ra những lời sỉ nhục, miệt khinh để chứng tỏ tư cách oai phong của bề trên.
Quan Ỷ thế: Ỷ vào thế lực làm quan, cao ngạo, hóng hách với dân hiền lương, khờ khạo, trông họ có lỡ lầm điều gì, nói ra như mắng chưởi.
Xảo-quyệt: Xảo là gian manh, xảo cũng còn cái nghĩa là khéo léo nhưng đi chung với quyệt thì ý nghĩa không thể là khéo léo được; Quyệt là dối trá. Hay nói theo Từ Điển Tiếng Việt của Xuân Huy “Xảo quyệt là dối trá, lừa lọc một cách quỷ quyệt, gian ngoan: Âm mưu xảo quyệt”
Thất thiệt: Thất là mất, thiệt là thật; thất thiệt tức mất đi sự thật. Ví dụ nói: Tin đồn thất thiệt, tin đồn nhảm. Ở đây nói do con người ỷ sự khôn lanh mà ra.
Kẻ học-thức ỷ sự khôn-ngoan: Kẻ học thức nói chung là người có trình độ học vấn, hiểu biết việc đời khá hơn người vô học hoặc ít học; ỷ sự khôn ngoan: có học không phải để sống trong đời với cuộc sống tốt, có ý nghĩa, mà sống vì ỷ sự khôn ngoan hiếp người.
Hạ nhục: Hạ là thấp xuống, hạ mình; nhục là chịu sự xấu hổ như bị sỉ nhục, lăng nhục, nhục hình. Hạ nhục tức làm hạ danh dự người ta xuống bằng thói ỷ ngôn.
Bạc-phước: Bạc, nói về thân phận thì mỏng manh, thấp thỏi nhỏ nhen, do đó mới có tiếng than là phận tôi bạc lắm, ăn uống đạm bạc; phước là sự tốt lành đến. Bạc phước tức nói không có phước để hưởng những điều tốt đẹp.
Cam ngôn: Cam: vị chua ngọt; ngôn là lời nói, ngôn từ. Cam ngôn tức dùng lời nói ngọt ngào.
Mỹ từ: Mỹ là đẹp, từ là chữ, ngôn ngữ. Mỹ từ tức dùng chữ hay lời nói ngọt ngào êm đẹp.
Lời trang-nghiêm: Trang nhã và nghiêm nghị, ý, Lời trang nghiêm là lời có chuẩn mực, điều độ, trong khi bàn chuyện hay chỉ dẫn không giỡn cợt, không quanh co.
Bao-Biếm: “Bao là khen, Biếm là chê” (Hán Việt Từ Điển). Ở đây trong bài có từ “không khá” đọc liền theo là “ không khá bao biếm” có nghĩa (đừng bao biếm) tức là không chê khen mà chỉ dùng lời trang nghiêm khuyên bảo.
Kính thưa quý vị! Để hiểu ác ỷ ngôn với sự tác hại của nó, tôi xin kể cho quý vị nghe một câu chuyện người ỷ ngôn đã bị giết.
Người ỷ ngôn lại là ông vua, bị giết mới lạ!
Đời Đông Chu, vua của nước Tống bây giờ là Tống Mẩn Công, trong triều có một tướng tài giỏi tên là Nam Cung Trường Vạn. Nước Tề, vua Tề Hoàn Công có hiềm khích với nước Lổ muốn cử binh sang đánh, quan cận thần đưa kế: muốn đánh nước Lổ trước nên cầu viện binh của nước Tống. Vua Tề đồng ý cử sứ qua Tống. Tống Mẩn Công nhận lời, giúp quân sang đánh Lổ và chủ tướng của đoàn quân hùng hậu nầy là Nam Cung Trường Vạn.
Nước lổ nghe quân thám báo, có Nam Cung Trường Vạn trên trận, quan cận thần biết việc không lành, dâng kế không thể đối sức mà chỉ dùng mưu. Vua Lổ nghe theo y kế, truyền cho hai trăm quân mặc giả cọp tung đánh ban đêm với ánh đuốc lập lòe, các quân lính Tống tưởng là cọp thiệt nên sợ quá mà bỏ chạy. Nam Cung Trường Vạn không thể một mình đương đầu với một bầy hổ đành phải chạy theo. Kết cuộc Trường Vạn bị quân Lổ bắt, dẫn về làm tù bình…
Lâu sau hai nước Lổ và Tống giao hòa, Tổng Mẩn công mới nhân đây mà xin với Lổ cho Nam Cung Trường Vạn được tha về. Vua Tống Xin tha cho bầy tôi tưởng cái tình còn tốt, không ngờ, Vạn về, Tống Mẩn Công đùa một câu nhá lửa: Ngày xưa ta rất trọng ngươi, nhưng ra trận đã để thua còn bị bắt làm tù thì nay ta không còn trọng nữa. Câu ấy làm cho Vạn thẹn cứng mình.
Lần nọ vua bày yến tiệc, để giúp vui, Trường Vạn múa gươm, thực khách khen đáo để. Vua không hài lòng liền mở cuộc chơi cờ và nói với Trường Vạn rằng: ai thua, mỗi một bàn cờ phải uống một chén rượu to. Trường Vạn để thua một bàn đầu, bị phạt rượu say khước nhưng vẫn đòi đánh tiếp, thua luôn mấy ván nữa, bị uống rượu phạt say mèm  mà vẫn đòi chơi tiếp. Vua Tống thấy thế buông lời: Ngươi là tên tù, đòi chơi cờ với ta, không thể có cơ hội thắng đâu!
Hết buồn tới giận. Đương tiệc thì có lính vào bẩm báo: Nước Chu, Trang Vương vừa băng hà. Lệ phải sang điếu tang. Trường vạn xin được đi, Tống Mẩn Công nói rằng: Chỉ khi nào Tống ta không còn quan quân nào thì mới để tên tù nhà ngươi qua đó.
Giận hết kềm chế được nữa, Trường Vạn gôm trăm sức mạnh hốt đập cái bàn cờ lên đầu vua, Ông ấy chết tại chỗ.
Tóm kết: Hai cái ác do miệng lưỡi: Ác lưỡng thiệt làm cho thiên hạ bất hòa. Thiên hạ là nói chung, trong đó cũng có bà con thân thuộc, nếu vì lời nói của ta có tính đâm thọc làm cho người thân của mình bất hòa nhau thì mang tội phá tan sự đoàn kết trong quyến thuộc gia tộc, không còn xứng đáng là con cháu ngoan, với người không phải quyến thuộc, xa lạ mà mình đâm thọc cho bất hòa thì mình mang tội phá tan sự đoàn kết trong xóm làng, xã hội.
Ỷ Ngôn, nặng lời với ai là đồng lúc hại người, hại mình. Hại người vì bị mình đè lên danh dự của người ta, còn hại mình vì người ta chịu không nổi những cai cú nên tìm cách lánh xa, bằng không, ỷ ngôn của mình tạo lên sự phẩn nộ tột đĩnh họ sẽ giết chết mình. Thế nên hai điều ác nầy phải trừ tuyệt khi vào học đạo.
PHẦN 3: Đặt Câu Hỏi:
- Thế nào gọi là lưỡng thiệt? Hãy giải thích.
- Tác hại của sự lưỡng thiệt là gì?
- Để không còn lưỡng thiệt ta phải làm gì?
- Sao gọi là Ỷ Ngôn?
- Ỷ ngôn có cả thảy mấy vụ? Xin kể ra.
- Bằng cách nào trừ đi tội ác Ỷ Ngôn?
Kính thưa chư đồng đạo! Buổi học hôm nay đến đây xin tạm dừng, hẹn gặp lại quý vị ở kỳ học tới.
Nguyện cầu chư Phật mười phương và Oai linh Đức Thầy, phổ độ cho lớp học giáo Lý PGHH của chúng con, người người siêng năng, học hành chăm chỉ, đạt kết quả tốt.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
02/2/ 2016









Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2016

NGHI VẤN 4
BUỔI HỌC 8
NHÓM HỌC GIÁO LÝ PGHH
ÁC TÀ DÂM (tiếp theo)
Hỏi: “Ngàn việc dữ tà dâm đứng trước”. Dữ đồng nghĩa với ác. Đọc qua Kinh Sách nhà Phật như “Thập ác” thì ác sát sanh đứng đầu, tà dâm ở hàng thứ ba; trong “Ngũ Thường” của Thánh Nhân hay “Ngũ Giới” của nhà Phật thì sát sanh cũng ở hạng trên hết của các thứ ác. Ta thấy như thế thì tà dâm nhẹ hơn, luôn hai điểm trích nêu đều đứng hàng thứ ba. Nay nói tà dâm là ác đứng đầu hết ngàn việc ác thật tôi không hiểu, mong có sự giải đáp.
Đáp: Câu thắc mắc của đồng đạo vừa nêu rất cần thiết cho việc khai thác những tiềm ẩn trong đề tài. Nhưng nghi vấn nầy có quá nhiều lập luận; so sánh vị trí của ác sát sanh với ác tà dâm. Cái gọi là quá nhiều lập luận vì căn cứ vào kinh sách mà bảo rằng tà dâm là ác đứng đầu trong các tội ác là mới mẻ, ý lạ.
Kính thưa quý vị! Giống như một đề tài thuyết trình giáo lý, để săn sóc cho đề thuyết được chu đáo sức thu húc thì đề thuyết phải được bảo trọng tính chất chuyên môn và chuyên biệt làm sáng tỏ vấn đề. Chúng ta là con nhà Phật Giáo, qua học Phật chúng ta cũng biết các pháp đều do nhân duyên mà sanh. Khi Đức Phật thuyết qua thời kinh nào thì thời kinh ấy được chính Đức Phật cho là cao siêu nhứt. Ví dụ như Đức Phật thuyết về Kinh Di Đà Ngài nói Kinh Nầy là vua của các Kinh, tới thuyết Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Ngài bảo Kinh nầy là mẹ đẻ ra các Đức Phật, Kinh Pháp Hoa và Niết Bàn cũng được Đức Phật cho là cao siêu hàng đầu: Trong nước biển dầu ở đâu cũng cùng một chất mặn, Đạo của Như Lai đem dạy bất cứ nơi đâu cũng một mục đích giải thoát mà thôi. Nếu sự học Phật của chúng ta không thông thì hay xảy ra những cuộc so đo đi đến thắc mắc về nhân ngã, pháp ngã, hiện tại làm bế tắc sự giải thoát trong kiếp sanh tồn.
Rốt cuộc kinh pháp nào mới ở vị trí hàng đầu?
Như tôi nói với quý vị lúc nảy: Phật Pháp là phương tiện cho chúng sanh tu học, nhờ vào cái phương tiện ấy mà mỗi người chọn phương tiện nào phù hợp tự cứu mình. Kinh Sách nhà Phật có câu: “Phật Pháp bất định Pháp” tùy duyên Phật thuyết pháp và cũng tùy duyên chúng sanh chọn pháp. Ta không nên tạo thêm sự mắc mớ mà hãy để suôn đường. Trong khi ta tu pháp Tịnh Độ, người khác tu Thiền Tông, phận ta ta biết, phận người khác người khác làm. Hai pháp khác nhau nhưng hai pháp đều là lời của Phật dạy, tự nó không mắc mớ, mắc mớ là do chúng ta không thông tâm. Hãy đi vào pháp tu bằng tấm lòng trong sạch. Đi ! đừng giậm chân tại chỗ mà nói pháp thiền pháp tịnh đâu cao đâu thấp. Phật pháp vì nhân duyên mà có thì người học đạo phải biết tùy duyên đặng quên đi những tranh cãi. Đừng ở Pháp Môn Tịnh Độ niệm Phật A Di Đà mà nói rằng pháp nầy là vua của các pháp rồi cho pháp nào không phải là pháp tịnh độ là dở hơn thấp hơn. Đừng dựa ở các pháp đều không của Kinh Bát Nhã rồi thì đi kiếm độ ăn thua, mặc kê các pháp có. Đức Thầy dạy:
“Chúng sanh mê nên đem pháp thuyết,
Giải thoát rồi pháp bất khả dùng”.
Giống như trong kinh Duyên Giác Phật tỷ dụ: Ngón tay chỉ mặt trăng, chiếc bè qua sông, tiếng gỏ bảng của Thầy giáo… Ngón tay chỉ mặt trăng sự giải thích của vấn đề là: Nói mặt trăng mà không biết mặt trăng ở đâu, muốn tìm mặt trăng là phải theo hướng ngón tay chỉ mặt trăng, nhìn hướng ngón tay chỉ chớ không phải nhìn ngón tay chỉ; nếu nhìn miết ngón tay thôi thì nhìn cho đến hết đời cũng không thấy mặt trăng. Ngón tay là phương tiện, khi tìm thấy mặt trăng thì ngón tay phương tiện hết xài, tự hóa không. Học sinh ồn ào trong lớp, Thầy giáo gỏ bảng làm nên tiếng ồn còn hơn tiếng ồn của học sinh, nhưng nhờ có tiếng gỏ bảng mới dẹp các tiếng ồn của học sinh. Khi học sinh bị tiếng gỏ bảng của Thầy giáo mà im phăng phắt thì Ông Thầy giáo phải biết dừng ngay, thôi gỏ bảng; nếu ông vẫn tiếp tục gỏ bảng vì giận lâu mấy đứa học trò hoặc vì vì đó thì chính Ông mới là kẻ làm ồn trong lớp chứ không phải học sinh.
Tóm lại, Phật pháp là phương tiện để chúng sanh tùy duyên chọn tu hành. Khi ngộ đạo, giải thoát thì phương tiện tự mất, như qua được bên kia bờ giác ngạn là thuyền bè không cần nữa. Đức Phật thuyết về Thập Ác cũng là pháp phương tiện để chúng sanh bỏ ác tùng thiện, pháp sát sanh đứng đầu hàng cũng là pháp phượng tiện để độ những chúng sanh hiếu sát. Mục đích là độ kẻ hiếu sát thì ác sát sanh sắp đứng hàng đầu là lẽ đương nhiên. Ác Tà Dâm ở hạng thứ thấp vì ở đây Tà Dâm chưa nhằm lúc đặt nặng vấn đề điều trị, chưa nhằm lúc coi trọng như mục đích.
Tôi nói chưa nhằm lúc bởi vì đề thuyết đang coi trọng ác sát sanh, ác sát sanh sở dỉ được coi trọng là vì Đức Phật đang đặt vấn đề trị bệnh kẻ hiếu sát mà chỗ khác, ác tà dâm xuất hiện một cách gớm ghiết hơn, câu “Dâm tâm bất trừ trần lao bất khả xuất” hoặc như hai câu đối sau đây làm rõ nghĩa hơn “Ái bất trọng bất sanh Ta bà, Niệm Bất nhứt bất sanh Tịnh Độ”. Hỏi chứ ai tu mà không hướng đến giải thoát sanh tử trong một kiếp? Nhưng dâm tâm đã đẩy mình vào vòng quay luân hồi không phải đã quá ác rồi sao? Không phải là hàng đầu của các tội ác sao? Còn nữa, câu “ái bất trọng bất sanh Ta bà” nếu không nặng lòng về ái dục chắc chắn khi chết đi không đầu thai trở lại thọ thân tứ đại chịu khổ, chẳng phải nói về tà dâm quá mức ác rồi sao?
Phật nói “Ái Dục” hay “Dâm Tâm” pháp nầy cao hơn về tà dâm gấp bội, vì Tà Dâm nằm trong khuôn phép gia đình đặt trước hôn nhơn, quan hệ tình dục trong hôn nhơn là được phép, ngoài hôn nhơn là không được phép. Ái dục hay dâm tâm nó bay cao khỏi tà dâm rất xa. Trong ý thức và sự tu hành nó không nói tà hay chánh nữa, nếu trong tâm vẫn còn động đậy bởi dâm dục là cõi hồng trần cho dù có tu lắm lắm cũng đừng hồng thoát khỏi. Ái dục hay dâm tâm là cái ác tà dâm không lộ hình tướng sự thật về thân thể. Đức Thầy cũng dạy cao hơn “… Lợi danh, quyền tước, nghĩa vợ tình chồng…, cái tư tưởng đã rù quến tâm trí mãi mãi quay cuồng vào những sự ấy, không thoát ly ra được. Ấy về phần tà.” Trong đây có “nghĩa vợ tình chồng” cũng bị coi là tà không cần phải giải thích quan hệ trong hôn nhơn hay ngoài hôn nhơn về tình dục.
Đức Thầy thuyết Ác Tà Dâm đứng đầu ngàn việc ác cũng là pháp phương tiện để đánh đổ thói quen dục vọng mê cuồng, lên án tà dâm là tai hại nhất, để cho bất cứ ai tu muốn thoát khỏi sanh tử chẳng những không được tà dâm mà phải không dâm tâm hay ái dục. Qua thực tế, Ngài nói về tà dâm trong một đề tài tà dâm, nêu cao ác tà dâm thuộc thứ dữ đáng sợ là sự nêu cao đúng cách. Chúng ta lấy tấm gương xưa chiếu lại, Vua trị vì quốc gia dân tộc mà đắm say sắc dục, tà dâm thì mất nước, mất dân; quan đắm sắc, tà dâm thì quan mất chức, vợ chồng mà một hay hai người tà dâm là mất hạnh phúc hôn nhơn, tan nhà nát cửa. Đây chỉ nói phần hư hại sự nghiệp chưa động tới vì tà dâm mà người ta tình địch, giết hại lẩn nhau. Đức Thầy luận về ác tà dâm, giải thích tội ác của chúng xã hội thời xưa hay thời nay đều có xảy ra đúng sự thật, coi ác tà dâm đứng đầu ngàn việc dữ rất là chính xác.
30/1/2016.


Thứ Ba, 26 tháng 1, 2016

HÀNH HƯƠNG CHIÊM BÁI
ĐI QUANH ĐI TẮT
Gặp gở nhau để nói về một chuyến đi chung, người ta hay bàn bạc chuyện đi quanh đi tắt thì có câu dè chừng “ Đi quanh một khắc đi tắt một ngày”. Câu nói hoàn toàn nghịch lý nhưng trải bao đời nó vẫn tồn tại mãi với thời gian để gặp chúng tôi.
Mới đây chúng tôi rủ nhau viếng núi. Quy ước đi và về trong ngày thì núi Cấm là không thể, chỉ có núi Bà Đội Om phân chia thời gian là hợp nhứt. Đã chắc ăn như vậy thì thôi, cứ theo lệ mà đi. Trong đoàn có Nguyễn Vũ Tâm thường gọi là Tâm Nhà Cháy còn tính già tính non dẫn đoàn đi tắt cho dư thời giờ có cơ hội sinh hoạt đạo đức lâu hơn. Từ nhà Cô Năm Huệ ở trục lộ Tri Tôn và Châu Đốc, dưới chân núi Bà Đội Om hướng đông bắc, cách đường chính lên núi không quá ba cây số. Đoàn đi xe nhà, nếu chạy đến đó gởi mà vào núi mất khoảng năm phút dành cho những xe chạy chậm. Từ đó lên tới điểm điện “Thần Kim Qui” tốn một giờ trèo núi nữa là tới ngay, dư nhiều thời giờ cho mặc sức mà vui, tỏ bày đạo pháp khuyên tu.
Đàng nầy, Tâm nhà Cháy dẫn đoàn đi tắt, lúc 8 giờ sáng từ nhà Cô Năm Huệ xuất phát, băng ngang ruộng khô, thông thả một chút thì đến chân núi đụng rừng, luồn lách gai quàu trầy da đổ máu lắm người, leo trèo hết tảng đá nầy đến tảng đá khác để kiếm đường. Kiếm gì thì trước mắt cũng rừng bốn mặt bao vây. Bống Trời nghiêng ngả hai giờ chiều mới đến được nơi mơ ước: Điện Thần Kim Qui.
Chỗ mơ ước mà chừng tới cũng phải chịu lấy con mắt ngó rồi bái bay chứ không ở được, bụng gào đói, đây có đãi cơm từ thiện mà không dám ở dùng. Giờ giất như giục giả khách đăng trình mau mau xuống núi đặng về nhà cho kịp trước khi Trời tối.
NHỚ HÔM ĐI TẮT

Tìm đường ra mà mỗi lúc lạc sâu vô rừng. Tôi biết Tâm Nhà Cháy bây giờ rất lo ngại nên hễ đến chỗ rắc rối, lùm dây chằn chịt uể oải không đi được, ngồi nghỉ thì Tâm Nhà Cháy ngồi xa một mình hoặc cảm thấy khó chịu nữa thì đi dọn dò đường đã rồi trở lại dụ dỗ: Gần tới rồi, quý đồng đạo rán lên! Nghe gần tưởng là thiệt ai cũng mừng, chen rừng đi  tiếp mãi chẳng thấy tới, nhè đâu là “Gần Giả Bộ”. Đá chồng kê cao, ai có sức lên trước, thòng dây hay cây cho những người còn ở phía dưới đu lên. Cái chỗ rất lo sợ đáng lẽ buồn lắm mà nín cười không được, làm ầm vang cả một gốc rừng. Sợ để cười lâu lảng tâm, tôi khuyên mọi người hãy nhớ niệm Phật còn giải thích thêm rằng niệm Phật trong trường hợp nầy là đúng sách vở.
Mệt rả người, phần lớn là do khát nước. Nước đá đem theo một thùng to to mà vượt qua mấy trận chui khe, đu dây nước trong thùng sạch bách. Trong thùng giờ còn là đá cục, chia nhau cắn ăn. Có người nuốc cục đá xem chẳng nhằm nhò gì với cơn khác đến ngứa cổ, vì nước đá xuống bụng có đã thèm chút nào đâu, ngậm lâu ở miệng mới thông từ từ xuống cần cổ. Xin thêm một viên tí tí, ai đã qua kinh nghiệm thì lần nầy không dám nuốc; không dám không có nghĩa là sợ mắc cổ…
Đi xa nữa, thấy có cái hầm to và sâu, dấu đất mới đào, bênh cạnh có đống cây tề bằng và một thùng nước lọc, chừng như đống cây tề bằng ấy là cả một sườn nhà hẹn ngày cất và cái hầm to sâu là người ta đào kiếm mạch nước ngầm hoặc chờ sẵn nữa chứa nước mưa. Không thấy chủ nhân cho mình hỏi thăm đây là đâu gần hay xa nữa mới tới điện Thần Kim Qui; tuy vậy cũng mừng ít ra là có dấu chân người.
Đang khát nước mà gặp đây có cái thùng nước lọc, thiệt là “bần cùng sanh đạo tặc” dễ dàng. Nghèo đói sanh trộm cắp là chuyện thường, đây khát thôi mà cũng khiến mình ăn trộm được. Không cần hỏi ai, đâu phải như ngày nào học “Của rơi không thèm lượm” giữ hạnh cứng khừ. Của đây có chủ chứ rơi gì mà để hơ hỏng là đoàn mình lượm tuốt. Chắc nước từ thùng của người ta qua thùng mình, phát hiện màu nước xanh rì là ngán ngẩm nhưng có ai đó nói: không sao đâu, màu nước xanh là chủ nhân để lá Dứa vô làm nước thuốc uống ngừa bệnh. Khát tới nước nầy, tôi thấy không ai sợ chết mà bảo giùm một tiếng thôi đi. Dầu vậy tôi khuyên đoàn hãy dùng nhín nhín, đặng khi chủ nhân có đến bất chừng cũng còn nước cho người ta sinh hoạt chứ uống cạn là mất lòng, người ta nổi nóng chưởi bới, đồn ra thì chuyến tham quan hành hương của mình còn có ý nghĩa gì chứ? Dù chừa nước cho chủ nhân, chúng ta cũng nên để lại một số tiền cột vô cái thùng, trước là tạ tội với chủ nhân vì mình lấy ngang không hỏi, sau nhờ chủ nhân dùng tiền nầy mua thêm thùng nước khác.
Theo lời khuyên của tôi, trước lúc rời khỏi đây tôi đi vòng lại cái thùng nước lọc định cột tiền vào đó thì có một cô ra tay trước tôi, tưởng vậy đã đủ bù, tôi thôi thì có một cô khác nhét thêm tiền trong dây cột. Tôi thật vui vẻ…
NHỚ HÔM BÊN THÙNG NƯỚC LỌC

Xa trông thấy thùng nước lọc, mừng mà đi riết tới, nghĩ bụng thế nào cũng có người cho mình hỏi thăm đây là đâu và bao giờ thì mới tới Điện Thần Kim Qui. Lạ lùng thay! Chỉ có cái thùng nước chứ chẳng ai thèm ở, hỏi ai đây?
Mọi người đang khát, thấy có cái thùng nước là ham, bu quanh chờ uống. Tôi không hài lòng cho việc xài nước không được chủ cho phép, nhưng nước bây giờ đắt như thuốc để trị cái bệnh khát lâu không nỡ lấy giới luật ra ngăn cấm. Để khuyên nhủ xa xa về việc phạm phải nầy tôi liền kể một câu chuyện.
Thuở xưa, lúc Đức Thích Ca mâu Ni còn tại thế, có hai vị Tỳ Kheo từ miền xa đến viếng Ngài. Hai vị trải qua nhiều chặn đường rừng buội rất vất vả, khát nước đến khô rát cổ (Trường hợp chúng ta hôm nay cũng gần giống vậy). Bổng gặp cái hầm nước trong veo nhưng trên mặt nước có con vật chết. Bấy giờ hai nhà Sư hai tâm trạng: một sư nghĩ rằng, ta từ xa do lòng kính Phật mà không ngại khổ khó vấn thân đến, mất nhiều ngày mà chưa gặp Phật, nếu nay không dùng nước nầy là chết mất, thế là suốt kiếp không thấy Phật sao? Thôi hãy dùng vào cho sống mà gặp Phật để không uổng công lặn lội vậy. Sư kia nghĩ rằng: Ta học Pháp của Phật để nương vào đó tu hành. Nếu ta dùng nước có con vật chết tất dính vào tội sát sanh. Uống một bát nước không thấy gì trong đó Đức Phật còn dạy phải niệm chú trước khi uống nước, huống nay đã thấy rành rành ra mà dám uống cho mang tội nặng sao. Pháp của Phật dạy đầy đủ không nghe lời, đi tìm Phật làm gì chứ??? Nghĩ thế sư không dùng nước, kiệt sức đi thêm không được, ở đó mà chết. Vị sư uống nước có thịt chúng sinh đủ sức đi tới chỗ Phật. Sư bạch Phật chuyện xảy ra trên đường. Phật nói: Thầy Tỳ Kheo kia đã đến với Như Lai trước hơn Ông.
Kính thưa chư đồng đạo nghe qua chuyện trên ta nhận xét, Đức Phật dạy chúng sanh tu, giới luật là căn bản. Ta thấy câu nghi vấn từ trong lòng của vị sư “Pháp của Phật dạy đầy đủ không nghe lời, đi tìm Phật làm gì chứ ?”còn Đức Phật thì bảo với Ông sư phạm giới rằng “Thầy Tỳ Kheo kia đã đến với Như Lai trước hơn Ông” đều để ca ngợi giới luật. Kinh Phạm Võng dạy “Giới minh như nhựt nguyệt diệc như anh lạc châu, vi trần bồ tát chúng, do thị thành chánh giác” (giới luật sáng như mặt Trời mặt Trăng, cũng như hạt châu Anh Lạc, Bồ Tát đông như vi trần đều nhờ giữ giới mà thành).
Mườn tượng chuyện trên, Đức Thầy trước khi xa vắng tín đồ đã viết thành kinh văn:
“Từ nay cách biệt xa ngàn,
Ai người tâm đạo đừng toan phụ Thầy.
Giữa chừng đàn nỡ đứt dây,
Chưa vui buổi hiệp bổng Thầy lại xa.”
Ngài đi, sợ tín đồ lơ là việc tu học, đã dặn dò bổn đạo:
“ Ít lâu ta cũng trở về,
Khuyên cùng bổn đạo chớ hề lợt phai.
E chừng trở lại sẽ bị mất mát nhiều, Đức Thầy dặn:
“Ta dù có cách thôn hương,
Vạn dân cứ chữ hiền lương mà làm”.
Kính thưa quý vị! Từ “Phụ Thầy” có ẩn dụ hai ý:
Một là bỏ đạo, hai là không nghe lời của Thầy mà hành đạo đúng nghĩa. Xét ra hạng một, việc bỏ đạo Thầy chỉ rơi rớt một vài trường hợp, không đáng kể; hạng hai, không bỏ đạo nhưng không siêng nghe lời dạy của Thầy là đa số. Tôi dùng từ “không siêng” để nói rằng không phải không nghe mà vì không siêng nên lúc nghe lúc không. Nghe không phải dùng vào việc nghe tiếng, âm thanh mà nghe bằng cách vâng lời dạy. Đức Thầy có câu:
“ Ai mà ta dạy chẳng gìn,
Thì sau đừng trách mất tình yêu thương”.
Chúng ta đọc câu:
“Ít lâu ta cũng trở về,
Khuyên cùng bổn đạo chớ hề lợt phai”.
Nghe thế mà trông mãi, nhưng ta có làm bảng kê khai để kiểm chứng rằng trình độ Học Phật Tu Nhân đã đi đến đâu chưa? Học không thuộc bài mà mong tới ngày chấm điểm sao? Hãy mang tâm sự của nhà sư giữ giới kia đi “Pháp của Phật dạy đầy đủ không nghe lời, đi tìm Phật làm gì chứ???”. Theo tôi nghĩ Đức Thầy chậm trở lại chấm thi vì rõ thí sinh của Ngài phần nhiều chưa học thuộc bài, có mau mau mà trở lại  lớp học không mấy người đậu là uổng công dạy dổ, đành phải neo thêm thời gian. Theo lý đó, muốn Đức Thầy sớm trở lại thì lo mà học hành cho thuộc. Chẳng phải Đức Thầy đã nói như vầy sao?:
“Chờ con đây đủ nghĩa nhân,
Ra tay tế độ dắt lần về ngôi”.
Kính thưa quý vị ! chúng ta ngồi nghĩ đã lâu, chưa biết đây là đâu, xét hành trình còn vượt nhiều đoạn khó. Xin tạm ngưng chuyện trò để chúng ta lên đường nhá.
27/1/2016







Chủ Nhật, 24 tháng 1, 2016

NGHI VẤN 3
BUỔI HỌC 8
NHÓM HỌC GIÁO LÝ PGHH
ÁC TÀ DÂM
Hỏi: Câu “ Bắt chước gương xưa trau-giồi lòng hiếu-trung trinh-tiết”. Thưa, xin cho biết ý nghĩa của gương xưa và thế nào là trinh-tiết?
Đáp: Câu hỏi ngắn mà rõ ràng. Nhưng xét có hai dụng ý, trước là nói về tấm gương tốt của việc học đạo Thánh Hiền, sau là giải thích về ý nghĩa của trinh tiết.
I. Tấm Gương
Tấm gương tốt kể có cả hai học đạo và hạnh đạo.
1/ Học đạo là học qua sách Thánh Hiền, phép tắc của đạo Luân Thường gồm Ngũ Luân và Ngũ Thường. Trong đó Ngũ Thường có năm điều cấm, một trong năm điều cấm đó là LỄ. Sự giáo dục của đạo, phái nam, hành hạnh Lễ là không được tà dâm, tức không quan hệ tình dục khi chưa có lễ cưới hỏi hay lén lút ngoài hôn nhơn. Phía phụ nữ có Tam Tùng: Tại gia tùng phụ, xuất giá tùng phu, phu tử tùng tử. Ở đây không bàn vế thứ ba. Khi người con gái chưa lên xe hoa, còn sống chung với cha mẹ, có sự giáo dục của bậc sanh thành, lương duyên do cha mẹ định, đặt đâu là ngồi đó, con gái không có bất kỳ cuộc hẹn hò tư tình với người đàn ông con trai nào. Người xưa rất trọng về danh giá. Nhà nào có con gái tiếng đồn lu bu về tình tứ ngoài hôn nhơn ông bà cha mẹ cảm thấy xấu hổ chẳng dám đi chơi đâu.
Nếu quý vị nào có đọc quyển Ngũ Tổ Chơn Kinh thì biết. Xưa ở Chúc Gia Trang có Ông Viên Ngoại sanh được ba người con, hai trai một gái. Gái lại là con út, dung mạo đẹp đẽ, tư chất thông minh Ông bà cưng quí con gái như ngọc như vàng, nhà giàu viên ngoại cho mướn nô tùy về riêng hầu hạ tiểu thơ. Bổng ngày nọ người tùy nữ nhơn khi đem đồ xuống dòng sông giặt vũ, thấy có một trái đào Tiên trôi bềnh bồng, cô vớt lên nhìn nó đẹp và thơm, cho là vật quí nên đem về tặng chủ. Tiểu thư ngửi mùi liền thích. Ăn Đào chẳng bao lâu tiểu thư của nhà ấy bụng lớn dần lên. Lúc đầu thì giấu mình trong phòng nhưng bụng mỗi lúc to, không thể giấu tiếp, tiểu thư thưa cùng mẹ mọi chuyện. Mẹ tin con gái của mẹ trong trắng, vì sanh ra và lớn lên trong khuê các ngoài chuyện học hành thì không giao du với bạn bè, lân la hát sướng. Bà không tin bụng lớn là do thai, có thể bệnh hoạn gì đó không chừng. Viên ngoại hay con gái có chửa oan lấy làm xấu hổ, lại có con trai tên Chúc Hổ anh cả của tiểu thư tánh tình hung ác đốc xúi cho sanh lớn chuyện. Viên Ngoại lập kế giết con gái rồi vác xác đem chôn đặng giữ kín chuyện. Tiểu thư tánh tình hiền đức người tớ gái cảm phục nên thế chỗ chết thay. Nhờ vậy mà tiểu thư trốn khỏi gia đình, chịu nhục với đời nuôi dưỡng thai nhi sau nầy là Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn_ tổ thứ năm trong sáu đời của Thiền Tông Trung Quốc_
Chuyện nói lên lòng tự trọng, người xưa coi danh giá lớn lao, con cưng cỡ nào cũng không bằng danh giá. Nhiều người gặp chuyện như trên họ không nỡ giết con nhưng bắt buộc sống lìa, xúi con trốn đi biệt tích.
2/ Gương hạnh, tức những người tôn trọng cách dạy đời của thánh hiền mà ăn ở đúng phép. Xưa có người phụ nữ có chồng nhưng vẫn còn nhan sắc lắm; cô bị vua bắt ép làm tình. Buồn cho số phận, gái đã có chồng thì không thể cùng ai khác nữa. Mới đầu vua không có hành động ngang với người con gái đẹp, chỉ dụ dỗ, nài ép. Cô thấy tính cách háo sắc của vua thì chắc Ông ấy không nhường lâu, đến một lúc nào đó dục vọng đẩy tới sức mạnh của quyền lực mình không thoát khỏi bị làm nhục. Bị mất tiết với chồng dù chỉ một vài lần thôi, tha cho mình về, chồng không biết nhưng tự ty mặc cảm đã vằn vặt suốt đời thì thà chết còn hơn. Cô nghĩ ra kế chết, nói với vua:
Bệ hạ là người quyền cao nhất nước, đã có biết bao cung phi mỹ nữ ưng tình, xin hãy tha cho thiếp và thiếp sẽ thế mạng bằng hoàn thuốc trường sanh, có ra trận gươm đao không thể hại mạng.
Vua nghe có thuốc trường sanh và không bị gươm đao làm hại là mừng bèn hỏi tới:
Lấy gì làm tin việc mỹ nhân nói là sự thật?
Rất dễ, để thiếp uống thuốc vào, song bệ hạ cứ đem gươm ra mà chém. Nhưng bệ hạ có đồng ý sự đổi chát nầy không?
Trẩm đồng ý.
Quân tử bất hý ngôn nhá! Thiếp dùng thuốc rồi đó, bệ hạ cứ chém đi.
Vua chém mạnh một gươm thân thể người đẹp đứt lìa, chết ngọt sớt.
II. Trinh Tiết:
Trinh tiết là thứ quí nhất trong đời người con gái. Theo giáo lý PGHH, người Việt Nam là nòi giống Tiên Rồng, trinh tiết phải được đề cập bảo vệ giống nòi không cho lai căn giống các dân tộc khác. Có bốn điều nữ tín đồ PGHH phải biết giữ mình:
1/ Không lấy chồng ngoại quốc.
2/ Không vì tiền mà lấy chồng già cao tuổi, hay vì tiền làm bẩn tiết trinh.
3/ Giữ cái cao quí ấy khi chưa đi lấy chồng.
4/ Khi đã có chồng thì giữ cái thứ quí ấy riêng cho chồng thôi.
Câu 1, không lấy chồng ngoại quốc và câu 2, không vì tiền mà lấy chồng già, cao tuổi, đáng tuổi cha Ông hay chú bác, ý nghĩa đó ta đọc thấy trong bài “Lấy Chồng Chệc”, nhập đề Đức Thầy hạ bút qua những câu:
“Cô ơi! Nước Việt-Nam thiếu gì trai trẻ,
Mà vội đi lấy lẽ “ba tàu”?
Của tiền quí-báu là bao,
Đem tuổi mười tám so vào bốn mươi.”
Căn cứ theo sự chú thích trong Sám Giảng Thi Văn “ lúc Đức Thầy đi ẩn lánh 1946, Ngài có gặp một cô gái Việt lấy chồng Ngô. Tức cảnh, Ngày có làm bài thi sau đây ( dùng biệt-hiệu Hoài-Việt).”(nói trên)
Ba Tàu tức là người Tàu, bây giờ tên thường gọi là Trung Quốc. Trách rằng, cô là con gái Việt Nam, nòi giống Lạc Hồng. Việt Nam không thiếu gì trai trẻ mà không thương người cùng nòi giống, nỡ nào bỏ đây yêu người ngoài đồng bào chủng tộc. Của tiền dầu có quí nhưng không thể đem đánh đổi tiết trinh của cô gái nhà Tiên cho lai căn qua một giống khác. Đánh đổi ngang cân cảm thấy giống nòi còn chịu thiệt, huống chi đổi không ngang cân, tuổi cô gái Việt Nam chỉ mới 18 so với 40 mươi của Ông chồng ngoại quốc thì thiệt là xấu hổ cho dân tộc Lạc Hồng.
Đoạn cuối bài “Lấy chồng Chệc” Đức Thầy tỏ rõ thái độ người giữ gìn chủng tộc giang sơn, nói như thở than:
“Ta là kẻ phương xa tá túc,
Thấy sự đời vẽ khúc văn chương.
Thấy đời cô chìm đắm trong gió sương,
Than ít tiếng gọi hồn chủng loại.”
Qua cách thở than để gọi hồn thiêng dân tộc, những anh linh đã vì bảo vệ quốc gia dân tộc mà hy sinh trước hai đế quốc xâm lược Tây Tàu, Đức Thầy cất cao lời kêu gọi những cô gái Việt Nam vong bản:
“Việt Nam ! Người Việt Nam mau trở lại!
Yêu giống nòi có phải hơn không?
Dầu sao cũng giống Lạc Hồng !”
Điều 3 và 4 Giữ cái cao quí ấy khi chưa đi lấy chồng, cưới vợ, Đức Thầy dạy:
“Tình duyên chẳng kíp thì chầy,
Chớ đừng cãi lịnh gió mây ngoại tình.
Ngài khuyên hết gái trai:
“Làm trai nhỏ tuổi tình duyên đang nồng.
Cũng đừng ghẹo gái có chồng,
Cũng đừng phá hoại chữ đồng gái trinh.
Ra đường chọc ghẹo gái xinh,
Nữa sau mắc phải yêu tinh hư mình.
Xử cho vẹn chữ nghĩa tình,
Vâng lời cha mẹ mà gìn gia cang.
Nghiêm đường chịu lịnh cho an,
Loạn luân cang kỷ hổ mang tiếng đời.”
Và cầu:
“Khuyên trai gái học theo Khổng Mạnh,
Sách thánh hiền dạy đạo làm người.”
Kính thưa quý vị, câu “Bắt chước gương xưa trau giồi lòng hiếu trung trinh tiết” tôi vừa giải. Nếu vấn chủ không còn thắc mắc xin cho qua câu hỏi khác.
(còn tiếp)
25/1/2016.







Thứ Năm, 21 tháng 1, 2016

NGHI VẤN 2
BUỔI HỌC 8
NHÓM HỌC GIÁO LÝ PGHH
ÁC ĐẠO TẶC VÀ TÀ DÂM (tiếp theo)
Hỏi: Vì bần cùng mà sanh ra đạo tặc; những quan chức không nghèo, đời sống họ no đủ hơn thường dân. Họ không lén lút trộm cướp như dân mà dùng nghị định nầy nghị quyết nọ để xâm phạm tài sản của nhân dân, lấy giá rẻ. Còn nữa, Đức Thầy nói “ Mượn luật pháp ẩn trong bống tối, mãi làm điều phi nghĩa chuyện bất lương”. Như vậy họ có bị coi là đạo tặc không?
Đáp: Câu nghi vấn nầy dài lượt thượt, ý nọ dệt ý kia, một câu thành hai, ba câu:
1, “Bần cùng sanh đạo tặc”, họ không phải kẻ bần cùng nhưng cướp đoạt tài sản của nhân dân thì họ có bị coi là đạo tặc không?
2, Họ ỷ có chức quyền đưa ra nghị quyết nầy, quyết định nọ để lấy không tài sản của nhân dân, hoặc trả giá tài sản rất rẻ và ép buộc phải chịu để chiếm dụng hợp pháp, như vậy họ có bị coi là đạo tặc không?
3, Đức Thầy có câu “ Mượn luật pháp ẩn trong bống tối, mãi làm điều phi nghĩa chuyện bất lương”. Mượn tiếng nói của luật pháp để chiếm dụng tài sản của nhân dân ta có thể áp dụng họ là đạo tặc không?
Tôi đoán ra những vế hỏi như vậy có trúng ý vấn chủ không?
Dạ đúng ạ.
Vậy tôi xin lần lược trình bày qua cách lập lại các vế hỏi:
Hỏi: “Bần cùng sanh đạo tặc”, họ không phải là kẻ bần cùng nhưng cướp đoạt tài sản của nhân dân thì họ có bị coi là đạo tặc không?
Đáp: Bần cùng sanh đạo tặc thường là nói về người dân nghèo khổ, gặp sự thiếu thốn thúc bách không chịu nổi mới đi trộm cướp cứu sinh. Ý nghĩa của đạo tặc là trộm cướp tài sản của người khác, đâu trừ Ông nhà giàu hay kẻ quyền chức mà không dám nói khi bắt quả tang họ trộm cướp. Xét ra, kẻ không nghèo mạt mà ỷ khôn ỷ quyền hành động đạo tặc tội ác của họ nặng hơn. Giàu dư ăn không giúp đỡ người nghèo để cùng sống ấm no còn ỷ khôn dùng mưu lập kế cho kẻ nghèo khờ lọt vào kế, nợ nần mà mất đất đai, tiền của. Quan chức ỷ quyền, luật pháp không quy định tịch thu nhưng họ tìm kẻ hở của luật pháp bắt tội một cách gượng gạo. Tội thêm tội, họ chiếm tài sản của người khác một cách độc ác hơn kẻ bần cùng sanh đạo tặc.
Hỏi: Họ ỷ có chức quyền đưa ra nghị quyết nầy, quyết định nọ lấy tài sản của dân hoặc trả giá tài sản rất rẻ và ép buộc phải chịu để họ chiếm dụng hợp pháp, như vậy họ có bị coi là đạo tặc không?
Đáp: Hành động đó chính là đạo tặc… giờ có phong trào “dân oan” khiếu kiện đất đai, đồng loạt kêu kẻ lấy đất họ là quân ăn cướp. Rất tiếc không còn từ nào nặng hơn là đạo tặc để dùng khi nói về họ. Nhân dân là chủ sở hữu hợp pháp tài sản của mình còn bị lấy ngang…
Thưa, thế nào là chủ tài sản hợp pháp?
Ví dụ: Đất của tôi là do Ông cha của tôi khai mở hoặc mua bán sồng thẳng đã qua bao đời chánh quyền, đất tôi đều có bằng khoán, chứng khoán và giờ thì có cái tên gọi khác: Giấy chứng nhần quyền sử dụng đất. Thế mà hễ chủ đầu tư kinh doanh trong nước hay nước ngoài ưng ý chỗ nào thì chánh quyền bán cho chỗ đó. Họ thành lập công ty hay cất lên nhà máy, đặt khu công nghiệp… Họ cấm móc bán đất, rồi thì rao lên đất ai trong vòng cấm nhà cửa cũng phải dọn đi, giá mỗi công đất chánh quyền mua cho hai mươi lăm triệu, mau mau mà đến lãnh tiền đặng cuốn gói để họ sớm hoàn tất khâu giải tỏa mặt bằng đặng mà giao đất đúng hẹn.
Một khu công nghiệp như khu công nghiệp Bình Thành, huyện Thanh Bình, Đồng Tháp, dân bị bắt bán với giá hai mươi lăm triệu một công, ai không chịu ăn tiền thì chánh quyền cho ăn còng số 8. Hộ gia đình Ông Nguyễn văn Duyên ở mãi không dời đi cho họ giải phóng mặt bằng bởi giá mua không hợp tình hợp lý. Chánh quyền dùng cưỡng bức dở nhà đào mồ, Ông Duyên phản đối, chúng đánh Ông Duyên hộc máu tại chỗ.
Vùng Thánh Địa Hòa Hảo quê ta, hôm trước có người đến thăm tôi kể nghe câu chuyện đau lòng: cả nhà tôi có hai công đất của Ông bà chia, đầu đàng trước cất nhà ở, phía sau trồng rẩy sống qua ngày. Bổng chánh quyền địa phương lấy đất tôi bán qua người khác làm cơ sở kinh doanh, trả mỗi công hai mươi lăm triệu. Không bán thì phải chịu hai hình phạt một là chết hai là ở tù nhưng chọn một trong hai thì đất vẫn mất. Cầm tiền hai mươi lăm triệu đi mua đất chỗ khác tương đối như chỗ tôi ở, an cư lạc nghiệp từ đời Ông Cha, nhập bốn lần tiền như vậy mua cũng chưa chắc được. Họ lấy đất mình nơi có đường, chợ và dân cư đông đúc, còn nói số tiền họ mua như vậy là cao, nếu vô vùng rừng mới mở, đất rẻ rề, bán một công đây mua hai công nơi đó còn dư. Dám so nói bậy bạ mà chừng mua nền nhà ở, họ lựa thứ hằng trăm triệu một nền, chỉ nền thôi đừng nói là có đất cắm giùi, một công.
Tôi không chịu vô vùng rừng mới mở để sắm lại đất, ăn ra mà không có làm vô riết rồi tiền bán đất tiêu hết. Nhiều người cũng có hoàn cảnh như tôi, rồi rủ nhau, con lớn con nhỏ phải cuốn gói ra Bình Dương sống tạ tội với tổ tiên, bất hiếu không giữ được đất của Ông bà. Việc nầy kẻ cướp đất phạm vào tội “là tội nhân gây ra những tai biến cho những gia đình cần lao kiệm tiết, là nguyên nhân của sự nghèo sự khó, họ phá hoại hạnh phúc của con người”.
Hỏi: Câu “mượn luật pháp ẩn trong bống tối, mãi làm điều phi nghĩa chuyện bất lương”. Mượn tiếng nói của luật pháp để chiếm dụng tài sản của nhân dân ta có thể áp dụng họ là đạo tặc không?
Đáp: Kẻ quyền chức mà có lòng nhám nhúa, cướp bốc, họ nói chuyện ra với nhân dân là luật pháp, bắt buộc nhân dân phải làm theo mà họ không làm. Công an có trách nhiệm giữ an ninh, quy tắc thẳng ngay “số một”. Bề ngoài của họ đều là vậy nhưng khi thực hành công tác an ninh… Tôi không cho là hầu hết chánh quyền các địa phương đâu cũng hiếp dân qua tài sản đất đai, phân nửa số các chánh quyền địa phương đưa ra giá thỏa thuận về mua bán đất phù hợp, cân phân. Quan thương dân thì quan không ăn chận của dân, hoặc ăn chận chút chút để bù vào công tác. Bán đất cho các chủ đầu tư mười thì mua vô cho dân cũng mười mới đúng. Dân đang sống đời an cư lạc nghiệp lại đuổi người ta đi, bị ép hơi còn nhịn được, mất đất của Ông bà mà tiền trong tay có thể đi nơi khác lập nghiệp. Quan chỗ nào không thương dân, bán ra mười mà mua vô cho dân có một. Ép quá thì dân phải nổi lên làm dân oan vác đơn khiếu kiện. Chỉ nói rơi rớt một số cái bề ngoài nói luật pháp thông thái như vậy… Ai dám nghĩ họ gian dối, hối lộ? Nguyễn Quốc Huy thứ trưởng bộ công an làm gì mà quan tòa cho vào tù gở mấy cuốn lịch? Còn nữa, năm 1994 trưởng công an phường Mỹ Thới vây bắt tín đồ PGHH đang hoạt động tôn giáo thì hai hôm sau hắn bị bắt vào tù với hai tội danh: 1 làm hồ sơ giả cho viện con lai xuất cảnh, 2 nhận tiền hối lộ. Đối với những quan chức như vậy, trích đọc lời Đức Thầy nói “ mượn luật pháp ẩn trong bống tối, mãi làm điều phi nghĩa chuyện bất lương” quả không sai.
Nói tóm, bất cứ ai lấy chiếm tài sản hợp pháp của nhân dân đều là kẻ trộm cướp, mà phân tội nặng tội nhẹ giữa dân thường và kẻ có quyền chức thì dân thường, theo tình lý mà so, tội nhẹ hơn bởi hai điều: một vì họ nghèo đói hoàn cảnh ép phải làm người vô lương tâm để kiếm sống mà họ không còn cách nào khác, hai họ trộm cướp ai là làm khổ có một nhà thôi, còn quan chức ỷ quyền hễ chịu lấy là lấy nhiều, khoanh một vùng đất có hằng trăm nhà bị mất tài sản, lên một kế hoạch đánh thế là rút ruột năm bảy chục triệu người.
22/1/2016
(nghi vấn buổi học còn tiếp)